Văn hóa và phát triển

Gìn giữ hồn dân ca...

Thứ Bảy, 23/02/2019, 01:26:21

Bắc Cạn là vùng đất hội cư, sinh sống của bảy dân tộc anh em: Tày, Kinh, Nùng, Dao, Hoa, Mông và Sán Chay. Những làn điệu dân ca của các dân tộc nơi đây đã cùng hòa quyện tạo nên bức tranh nghệ thuật âm nhạc dân gian đặc sắc. Trước nguy cơ bị mai một của nhiều loại hình âm nhạc dân tộc thiểu số, việc bảo tồn, gìn giữ mạch nguồn dân ca các dân tộc đã và đang được tỉnh quan tâm thực hiện.

Gìn giữ hồn dân ca...

Chủ nhiệm Câu lạc bộ then thôn Bản Hon, xã Bành Trạch, huyện Ba Bể (Bắc Cạn) truyền dạy hát then cho các học viên trẻ.

Ngọt ngào lời ca...

Thạc sĩ văn hóa Hoàng Anh Thư (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Cạn) cho biết, vùng đất Bắc Cạn có nhiều làn điệu, thể loại dân ca đặc sắc của các dân tộc, vừa có tính nghệ thuật vừa mang tính tín ngưỡng. Tổng cộng có khoảng hơn 20 làn điệu, thể loại, trong đó có những làn điệu riêng có ở Bắc Cạn như bài then Ba Bể pé tiên (Ba Bể cảnh tiên), Lập xuân… gắn với dân vũ như múa bát, múa quạt… Mỗi thể loại, làn điệu vừa là “căn cước văn hóa”, vừa là dấu ấn nghệ thuật mỗi dân tộc trong bức tranh văn hóa dân gian đặc sắc của vùng đất này. Người Tày ở Bắc Cạn có hát ru, lượn cọi, phong slư, thơ lẩu; người Dao có hát páo dung gắn với lễ hội cầu mùa; người Sán Chay có múa tắc xình; người Nùng lại có điệu hát sli với nhiều cách hát khác nhau gắn với tám nhánh Nùng, như: sli Giang, sli Phàn Slình hay sli Sình Làng… thể hiện thế giới tâm hồn phong phú, độc đáo. Nhiều giai điệu rất đặc thù, như hát pụt trong nghi lễ của người Tày; lượn cọi của người Tày huyện Pác Nặm có tính độc đáo ở miền núi phía bắc...

Lượn slương là một trong những làn điệu hát danh tiếng, lâu đời, là vốn dân ca quý báu, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc của người Tày ở Bắc Cạn. Hát lượn slương là một nét vô cùng độc đáo bởi giai điệu êm ái, dung dị, được hát chủ yếu ở trong nhà. Một cuộc lượn slương thường có ba phần: lượn nai (lượn mời hát); lượn pây tàng (lượn đi đường); lượn sử (lượn chúc mừng). Màn khai cuộc là những câu lượn của chủ nhà nói lên niềm vui trước sự có mặt của khách quý. Tiếp theo là những lời hát da diết mời khách hát đối đáp. Đoạn hát mời có ba đến bốn người thay nhau hát, nhưng khi vào cuộc chính thức thì chỉ có một đôi trai gái nhập tâm các bài kết hợp ứng khẩu tại chỗ. Người hát luôn sáng tạo phù hợp hoàn cảnh cụ thể, không dập theo khuôn mẫu nhất định nào đó, vì thế một cuộc lượn slương luôn sinh động, hấp dẫn, cuốn hút người nghe. Lượn pây tàng là trọng tâm của lượn slương, có nhiều bài, chương, chẳng hạn như: Cáy khăn (Gà gáy), Nhẳm lừa hải va (Đi thuyền hái hoa), Hải nhỉ xuân (Hái nhị xuân), Cừn vọng hả canh (Đêm vọng năm canh)... Lượn sử kể những câu chuyện dân gian, cổ tích, như: Chương truyện Ngọc Dung, Sự tích truyện tiên sa, Sơn Bá, Anh Đài… Thời gian dành cho lượn sử khá dài, có thể gần hết một đêm. Cuộc lượn đến phần này chứng tỏ tình duyên đôi lứa đã đạt đến mức độ hứa hẹn chắc chắn. Phần cuối cùng là các bài lượn đáp nghĩa, cảm tạ gia chủ, làng, bản tạo điều kiện cho đôi lứa được hát lượn giao duyên... Những đặc trưng riêng đặc sắc ấy khiến hát lượn slương của người Tày Bắc Cạn đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Các thành viên trẻ của Câu lạc bộ hát then xã Yên Cư, huyện Chợ Mới. Ảnh: THANH BẢN

Đến thôn Bản Hon, xã Bành Trạch (huyện Ba Bể), chúng tôi tìm gặp “thầy giáo” trẻ Mã Trung Trực, Chủ nhiệm câu lạc bộ (CLB) hát then Trung Trực. Mới ngoài 40 tuổi, nhưng anh Trực đã là người yêu then có tiếng ở vùng miền núi phía bắc, là thầy dạy của nhiều học viên ở khắp các tỉnh. Anh cho biết, then rất phong phú về làn điệu, có thể là then cổ, biểu diễn, truyền khẩu, các làn điệu mới được phát triển. Đặc trưng của then Bắc Cạn là lên dây quãng năm, mỗi vùng then có đặc trưng riêng, nhờ đó, người lão luyện chỉ nghe qua cũng biết được đó là then Bắc Cạn, then Lạng Sơn hay then Tuyên Quang… Vùng then Ba Bể nổi tiếng không chỉ trong địa giới hành chính tỉnh Bắc Cạn. Lạc bước đến với bản Pác Ngòi, xã Nam Mẫu, nơi giờ đây nhiều mái nhà sàn được đồng bào dân tộc sửa chữa thành những homestay đón khách. Giữa không khí se lạnh, sương bảng lảng, len lỏi khắp nhà chợt vang lên điệu then, tiếng đàn tính cuốn hút của đội văn nghệ thôn. Chị em phụ nữ tạm quên đi những mệt nhọc sau một ngày lao động vất vả, cầm đàn, cất lời bài hát then mộc mạc mà đắm say lòng người. Thông qua diễn xướng, biểu diễn phục vụ du khách, bà con nơi đây vừa bảo tồn được văn hóa dân tộc, vừa có thêm thu nhập.

Gìn giữ mạch nguồn

Cuộc sống hiện đại đang tạo ra nhiều sức ép khiến những thể loại, làn điệu dân ca của bà con các dân tộc ở Bắc Cạn phần nào trở nên yếu thế. Nhà thơ Triệu Kim Văn, Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, một người con của dân tộc Dao, cho biết, với dân tộc Dao thì hát páo dung là đặc trưng riêng có. Hát páo dung có cả giao duyên, trong lễ hội, sinh hoạt hằng ngày theo hình thức đối đáp vừa có bài sẵn, vừa là ứng đối. Ngày xuân, từng tốp trai bản từ bản này sang bản bên để hát giao duyên, có khi đến tối mới về. Thế nhưng, hiện nay, ở dòng Dao đỏ, hát páo dung có phần mai một; còn ở dòng Dao tiền, páo dung được duy trì tốt hơn nhưng chủ yếu ở các thôn bản xa xôi. Một dòng dân ca đặc sắc nhưng chỉ còn “sống” được ở một bộ phận người Dao vùng khó khăn là điều rất đáng tiếc. Tình cảnh mai một các làn điệu dân ca như thế không chỉ xảy ra với đồng bào dân tộc Dao. Ở Bắc Cạn, số người cao tuổi biết các làn điệu dân ca của dân tộc mình ngày càng ít, nhiều làn điệu bị thất truyền, chưa phục dựng được. Chủ nhiệm CLB khèn Mông thôn Bản Nghè, xã Cổ Linh, huyện Pác Nặm Hoàng Minh Tân chia sẻ, học khèn, chế tác khèn rất khó, người say mê, có năng khiếu cũng mất hàng năm trời. Hơn hai năm, CLB dạy 15 người thì chỉ được bốn học viên trẻ thành thạo nhưng giờ nhiều em đi học, làm ăn xa cho nên số thành viên chỉ còn tám người, không còn sinh hoạt được định kỳ. Ông Tân lo lắng việc mình đã ngoài 70 tuổi, nếu không truyền dạy được cho lớp trẻ thì cách làm, cách thổi khèn của người Mông ở đây có nguy cơ thất truyền...

Thời gian qua, tỉnh Bắc Cạn đã chỉ đạo xây dựng, hỗ trợ phát triển được nhiều CLB văn nghệ dân gian, nuôi dưỡng nghệ thuật âm nhạc của các dân tộc anh em trên địa bàn. Điển hình như CLB hát then, hát dân ca Tày thôn Bản Tinh, xã Yên Cư (huyện Chợ Mới). Được thành lập đầu năm 2009, ngay sau đó CLB đã ghi dấu ấn bằng việc giành giải đặc biệt tại Liên hoan hát then - đàn tính toàn quốc lần thứ 3 năm 2009 với vở diễn Mời Phò Mạ - Thái Tử khấu mà cấp sắc hử đệ tử (Mời Phò Mã - Thái tử về cấp sắc cho đệ tử). Ban đầu, CLB chỉ tập hợp được 10 nghệ nhân hát then ở các xã Bình Văn, Yên Hân và Yên Cư, đến nay CLB đã tăng lên 40 thành viên với nhiều người còn rất trẻ. Hay CLB hát then Trung Trực ở thôn Bản Hon, xã Bành Trạch (huyện Ba Bể) đã phát triển lên hơn 400 thành viên, cả thường trực và không thường trực trong và ngoài tỉnh. CLB đã mở hơn 20 lớp đào tạo hát then, mỗi lớp từ 60 đến 70 học viên... Hiện nay, hầu như ở huyện nào của Bắc Cạn cũng thành lập được những CLB hát dân ca cho thiếu nhi để nuôi dưỡng, bảo tồn dân ca. Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin huyện Chợ Đồn Hà Thị Khánh cho biết, huyện củng cố được năm CLB dân ca, trong đó có hai CLB thiếu nhi của Trường phổ thông dân tộc nội trú và thị trấn Bằng Lũng. Sắp tới, huyện sẽ hỗ trợ kinh phí xây dựng một CLB dân ca tập hợp các nghệ nhân thông thạo, từ đó mở rộng truyền dạy hát dân ca tới lớp trẻ.

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Cạn, hiện toàn tỉnh đã phát triển được hơn 10 CLB dân ca ở thôn, bản, huyện và trường học. Tỉnh triển khai nhiều dự án nghiên cứu, bảo tồn dân ca các dân tộc, hằng năm, tổ chức liên hoan thi hát dân ca, xây dựng các đội văn nghệ quần chúng. Tháng 9-2018, Bắc Cạn đầu tư gần một tỷ đồng triển khai dự án “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Bắc Cạn, giai đoạn 2018 - 2020”. Trong đó, tập trung bảo vệ, phát huy hai di sản Lễ Cấp sắc của người Tày (có hát then trong nghi lễ) và Nghệ thuật múa Khèn của người Mông. Dự án phục dựng, mở chín lớp truyền dạy, xây dựng ba phim quảng bá, có phụ đề tiếng dân tộc với 300 đĩa DVD. Cuối năm 2018, tỉnh cũng triển khai dự án “Bảo tồn và phát huy một số di sản văn hóa dân tộc gắn với phát triển du lịch Ba Bể”. Trong đó xây dựng ba đội văn nghệ dân gian hát then, hai đội văn nghệ người Dao ở các bản ven vùng hồ Ba Bể; mở phiên chợ đêm tại bản Pác Ngòi để làm điểm diễn xướng dân ca, dân vũ; xây dựng phim tài liệu, ra cuốn sách về văn hóa dân gian vùng hồ…

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Cạn Hà Văn Trường cho biết, tỉnh xác định bảo tồn dân ca, dân vũ để phát triển kinh tế với mục tiêu đưa dân ca “sống” được trong đời sống và người dân có thể sống được nhờ biểu diễn dân ca, dân vũ phục vụ phát triển du lịch. Khó khăn lớn nhất hiện nay là lớp trẻ phải bươn chải lo toan cuộc sống, trong khi việc truyền dạy chủ yếu là truyền khẩu cho nên nhiều làn điệu dân ca có nguy cơ bị mai một. Vì thế, Sở kiến nghị các bộ, ngành Trung ương sớm nghiên cứu ban hành chính sách đưa việc dạy dân ca, dân vũ trở thành một môn học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú để không chỉ bảo tồn, gìn giữ mạch nguồn mà còn có điều kiện phát huy những nét văn hóa độc đáo của từng dân tộc.

Bài và ảnh: TUẤN SƠN