Chọn thực phẩm trong cơn “bão giá”

Thứ Năm, 28-05-2020, 01:42
Khách hàng lựa chọn hàng hóa tại Siêu thị Hapro Thành Công (Hà Nội). Ảnh: TRẦN ANH
Từ lâu, thịt lợn đã được chọn là món ăn truyền thống và thông dụng, nhất là ở vùng nông thôn người dân thường xuyên sử dụng nhiều trong các bữa ăn hằng ngày. Trong thời kỳ “bão giá” thịt lợn hiện nay, bữa ăn không nhất thiết phải dùng thịt lợn, mà có thể thay thế bằng các loại thực phẩm khác có giá trị dinh dưỡng và giá thành hợp lý hơn.

Hiện nay, giá thịt lợn rất cao, thậm chí cao gấp hơn hai lần so với các loại thực phẩm khác như cá, trứng các loại, thịt gà... Chính vì vậy, người tiêu dùng hoàn toàn có thể lựa chọn những thực phẩm thay thế thịt lợn có giá tiền thấp hơn như: cá, tôm, cua, trứng, đậu, lạc, vừng... mà giá trị dinh dưỡng cũng cao và tốt cho sức khỏe. Đáng chú ý, Việt Nam là nước nông nghiệp, nhưng một số sản phẩm từ nông nghiệp như thịt lợn, sữa... giá lại cao hơn các nước công nghiệp. Một trong những nguyên nhân là do cơ cấu sản xuất của ngành nông nghiệp không phù hợp; mặt khác việc lưu thông phân phối các sản phẩm đó chưa hợp lý. Đồng thời, thói quen tiêu dùng của người Việt đã làm chi tiêu cho ăn uống tăng lên, trong khi thu nhập của người dân vẫn thấp mà lại phải mua thịt lợn, sữa... với giá cao. Vì vậy, người Việt Nam cần thay đổi thói quen tiêu dùng để thích ứng giá cả thị trường, cũng như thích ứng túi tiền của mình để đỡ khó khăn hơn.

So sánh về giá trị dinh dưỡng của một số loại thực phẩm, người tiêu dùng sẽ có cách lựa chọn thực phẩm thay thế để việc chi tiêu hợp lý cho bữa ăn của gia đình. Trong 100 gam thực phẩm được cung cấp các chất dinh dưỡng như sau: Đậu tương (đậu nành): Năng lượng 418 Kcal, 34,0 gam prô-tê-in, 18,4 gam mỡ, 165 mg can-xi, 690 mg phốt-pho, 11.0 mg sắt, 3.8 mg kẽm, 4 mg vi-ta-min C, 375 µg phô-lát , vi-ta-min A 3 µg; Đậu xanh: Năng lượng 346 Kcal, 23,4 gam prô-tê-in, 2,4 gam mỡ, 64 mg can-xi, 377 mg phốt-pho, 4,8 mg sắt, 1,1 mg kẽm, 4 mg vi-ta-min C; Lạc hạt: Năng lượng 583 Kcal, 27,5 gam prô-tê-in, 44,5 gam mỡ, 68 mg can-xi, 420 mg phốt-pho, 2,2 mg sắt, 1,9 mg kẽm; Vừng (đen, trắng): Năng lượng 582 Kcal, 20,1 gam prô-tê-in, 46,4 gam mỡ, 975 mg can-xi, 629 mg phốt-pho, 14,55 mg sắt, 7,75 mg kẽm; Cá diếc: Năng lượng 87 Kcal, 17,7 gam prô-tê-in, 1,8 gam mỡ, 70 mg can-xi, 152 mg phốt-pho, 0,8 mg sắt; Cá chép: Năng lượng 96 Kcal, 16 gam prô-tê-in, 3,6 gam mỡ, 17 mg can-xi, 184 mg phốt-pho, 0,9 mg sắt, 1,48 mg kẽm; Thịt lợn nửa nạc, nửa mỡ: 16,5 gam prô-tê-in, 21,5 gam mỡ, 9 mg can-xi, 178 mg phốt-pho, 1,5 mg sắt, 1,91 mg kẽm, 285 mg ka-li, 55 mg nát-tri; Thịt lợn nạc: 19 gam prô-tê-in, 7 gam mỡ, 7 mg can-xi, 190 mg phốt-pho, 1,5 mg sắt, 2,5 mg kẽm, 341 mg ka-li, 76 mg nát-tri; Thịt lợn mỡ: 14,5 gam prô-tê-in, 37,3 gam mỡ, 8 mg can-xi, 156 mg phốt-pho, 0,4 mg sắt, 1,59 mg kẽm, 318 mg ka-li, 42 mg nát-tri...

Khi chọn thực phẩm, người tiêu dùng cần lưu ý, đối với thịt (lợn, gà, bò...) cần chọn những loại có màng ngoài thịt khô, không bị nhớt, không có mùi lạ, mùi ôi thiu, mùi thuốc kháng sinh. Mầu sắc bình thường, thịt lợn mầu hồng tươi, thịt bò mầu đậm vừa phải không quá sẫm), thịt trâu mầu tím đỏ; khối thịt săn chắc, có độ dính, mềm và đàn hồi cao, ngón tay ấn vào thịt tạo thành vết lõm nhưng không để lại dấu vết khi nhấc ngón tay ra; mỡ lợn mầu trắng, dày bì không có những chấm xuất huyết mầu đỏ tím, không bị những mảng bầm tím, tụ máu. Cắt thịt không thấy có nước, thịt không hao, chỗ vết cắt có mầu sáng, khô; kiểm tra phần thịt nạc và lưỡi không được có ấu trùng sán mầu trắng nhỏ bằng hạt gạo.

Đối với cá, cần chọn loại tươi, tốt nhất là cá đang sống. Nếu cá vừa mới chết nhưng thân cá co cứng khi để cá lên bàn tay thân cá không thõng xuống; mắt cá trong suốt, nhãn cầu lồi, giác mạc đàn hồi, miệng ngậm cứng; mang mầu đỏ tươi, dán chặt xuống hoa khế không có nhớt và không có mùi hôi; vây tươi, sáng óng ánh, dính chặt vào thân, không có niêm dịch hoặc có ít niêm dịch trong, không có mùi ươn ôi; bụng lép, không phình, hậu môn thụt sâu và mầu trắng nhạt, nếu cá ươn thì hậu môn mầu hồng hay đỏ bầm, lòi ra ngoài, bụng cá phình to; thịt rắn chắc, có đàn hồi, dính chặt vào xương sống là cá tươi; miệng cá tươi ngậm kín, còn cá ươn, ôi thì miệng hé mở.

Đối với mực nên chọn con to, dày mình, trắng trong, thịt chắc không bị nát, lớp màng mầu nâu bao quanh đều bên ngoài đối với mực nang. Với mực ống thì chọn con có lớp thịt mầu sáng hơi hồng, đầu vẫn dính chặt vào thân, túi mực chưa bị vỡ. Lưu ý, mực kém tươi là mực đã chuyển sang mầu hơi xanh ngà, thịt nhão, đầu không dính chặt với thân, mùi rất tanh. Trứng là loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, trứng có đủ các thành phần dinh dưỡng: chất đạm, chất béo, can-xi, sắt, kẽm, se-len, vi-ta-min B12, vi-ta-min D, các a-xít béo, a-xít béo no, a-xít béo không no, cholesterol... Khi chọn trứng nên nắm quả trứng trong lòng bàn tay, chỉ hở hai đầu trứng, mắt nhìn vào đầu trứng, đầu kia soi lên một nguồn ánh sáng (ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng điện). Quan sát phần bên trong của trứng xem có vết máu không, có ký sinh trùng, giun sán, có vật gì lạ không. Trứng soi có mầu hồng, trong suốt với một chấm hồng; túi khí có đường kính <1cm, đường bao quanh cố định. Thực phẩm chế biến sẵn (giò, chả, thịt hun khói, đồ đông lạnh...) cần chọn sản phẩm có thương hiệu, cơ sở sản xuất uy tín, đầy đủ nhãn mác, thành phần dinh dưỡng, ngày sản xuất, hạn sử dụng.

Ths, Bs NGUYỄN VĂN TIẾN (Viện Dinh dưỡng quốc gia)