EVFTA đặt ra những vấn đề mới cho doanh nghiệp Việt Nam

Thứ Ba, 13/08/2019, 16:23:37
 Font Size:     |        Print
 

Sản xuất giày tại Công ty Pou Yuen Việt Nam.

Hiệp định Thương mại tự do với EU (EVFTA) cuối cùng đã được ký kết với kỳ vọng giúp thúc đẩy hợp tác, thương mại và đầu tư giữa EU và Việt Nam. Tuy nhiên, EVFTA cũng đặt ra những vấn đề mới, nếu không có giải pháp đúng đắn sẽ trở thành thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Ngày 30-6-2019, Việt Nam và EU đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do EVFTA, kết thúc một quá trình đàm phán từ tháng 12 năm 2015. Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ nhì của EU trong toàn khối ASEAN, chỉ sau Singapore, với kim ngạch hàng hóa 49,3 tỷ Euro và kim ngạch dịch vụ trong khoảng ba tỷ Euro.

Những mặt hàng nhập khẩu chính từ Việt Nam vào EU lâu nay là viễn thông, giày dép, hàng dệt may, hàng nội thất và nông sản. Ngược lại, hàng xuất khẩu chủ yếu từ EU qua Việt Nam là máy móc, thiết bị vận tải, hóa chất, thực phẩm, thức uống.

Theo Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh, EVFTA là cơ hội cho giới đầu tư châu Âu hưởng mọi điều kiện thuận lợi, ưu đãi trong hoạt động kinh doanh mua bán với các khu vực tự do thương mại khác mà Việt Nam tham gia.

Theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trong khu vực ASEAN, độ mở kinh tế của Việt Nam chỉ sau Singapore, nhưng năng lực hội nhập, cạnh tranh, theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Việt Nam xếp thứ 77/140 nền kinh tế, ở mức trung bình; trong đó, năng lực cạnh tranh thể chế xếp thứ 94/140, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 101/140. Như vậy có thể thấy, nhận thức rõ được các cơ hội mà EVFTA mang lại, nhưng độ sẵn sàng của cộng đồng doanh nghiệp, các cơ quan quản lý vẫn còn thấp. Các doanh nghiệp Việt Nam dường như vẫn còn sức ì lớn trong việc chuẩn bị đón bắt những lợi thế từ EVFTA.

Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Đa Biên -Bộ Công thương nhận xét Việt Nam đang có rất nhiều hiệp định thương mại tự do với các quốc gia và khu vực, tuy nhiên phía doanh nghiệp và cả các bộ, ngành, địa phương vẫn còn chưa có sự chủ động. Đơn cử như khi yêu cầu các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch tổng hợp thực thi các hiệp định thương mại được ký kết, nhưng có rất ít tỉnh, thành, bộ, ngành làm. Hay từ khi có thông tin về Hiệp định EVFTA, phía Bộ Công thương mới chỉ nhận được hai câu hỏi của các doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp FDI về các vấn đề mã thuế HS, quy tắc xuất xứ... Còn rất nhiều vấn đề khác cần có mức độ quan tâm rộng hơn như các hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn liên quan an toàn thực phẩm... EVFTA có lộ trình cắt giảm thuế quan rất ngắn, rất nhiều mặt hàng chúng ta có cơ hội vào EU tốt với thuế suất bằng 0%. Hiện các đối thủ trong khu vực như Trung Quốc, Thái-lan, Myanmar, Malaysia... chưa có FTA với EU, nhưng điều đó không phải là mãi mãi vì họ cũng sẽ tiếp cận FTA với thị trường này. Do vậy doanh nghiệp Việt Nam phải nhanh chóng tận dụng và duy trì lợi thế này càng sớm càng tốt.

Theo chuyên gia Nguyễn Mại, EVFTA đặt ra những vấn đề mới, nếu không có giải pháp đúng đắn sẽ trở thành thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam. Đối với cạnh tranh trên thị trường nội địa, do không phải chịu thuế nhập khẩu nên hàng hóa của EU vừa có chất lượng tốt, vừa có giá cả cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp Việt Nam; doanh nghiệp nào đổi mới công nghệ, sáng tạo mẫu mã mới, nâng cao chất lượng thì sức ép trở thành động lực đổi mới; ngược lại sẽ chịu thua lỗ, thậm chí phá sản. Hai là, EU quy định khá nghiêm ngặt đối với hàng nhập khẩu và thường áp dụng rào cản kỹ thuật như đã sử dụng "thẻ vàng" đối với hàng thủy sản của nước ta, luật chống bán phá giá để hạn chế tốc độ tăng trưởng hàng nhập khẩu từ một nước. Đối với một số sản phẩm xuất khẩu là thế mạnh của mình, EU đòi hỏi đối tác cắt giảm hàng rào phi thuế quan, loại bỏ phương thức thức trợ giá của Chính phủ. Doanh nghiệp Việt Nam cần phải thực hiện nghiêm túc quy định về xuất xứ sản phẩm để được hưởng thuế ưu đãi, đây là vấn đề đã từng xảy ra đối với một số sản phẩm như thép, hàng may mặc Việt Nam... Doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang EU nếu không theo dõi cập nhật thông tin về thị trường EU để ứng phó kịp thời và có hiệu quả sẽ chịu thiệt hại lớn khi EU áp dụng các biện pháp trên đây.

Một vấn đề nữa là khi nhiều tập đoàn kinh tế lớn của EU đầu tư vào Việt Nam tạo ra áp lực đối với việc thực thi thể chế, luật pháp nhất là các vấn đề về chống tham nhũng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động như tiền lương, bảo hiểm xã hội, chống cưỡng bức lao động, làm thêm giờ... là những vấn đề Việt Nam đang tiến hành nhưng chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhà đầu tư từ EU. Hoạt động mua bán và sáp nhập cũng sẽ được gia tăng vừa tạo thêm kênh huy động vốn đầu tư của Việt Nam đồng thời tạo ra cuộc cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước, nếu không nâng cao tiềm lực và mở rộng quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp theo chuỗi cung ứng trong từng sản phẩm thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ thua trên sân nhà.

Để thực thi EVFTA có hiệu quả, Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc cho rằng phải làm sao tiếp tục cải cách thể chế, hội nhập là không chỉ tuân thủ hiệp định mà còn vận dụng có lợi nhất cho doanh nghiệp Việt Nam, thúc đẩy doanh nghiệp có thể vươn lên tận dụng lợi thế, ưu đãi thuế quan và khả năng thâm nhập thị trường. Bên cạnh đó, bản thân doanh nghiệp cũng phải tái cấu trúc lại về quản trị, công nghệ để đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ, vệ sinh, kỹ thuật, phát triển bền vững... Cơ hội đang mở ra, nhưng rủi ro cũng rất lớn, nên doanh nghiệp cần có tầm nhìn toàn diện hơn, kèm theo các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong bối cảnh thương mại thế giới đang thay đổi.

Doanh nghiệp trong từng ngành hàng thông qua hiệp hội nghề nghiệp tăng cường quan hệ hợp tác theo chuỗi cung ứng sản phẩm được hình thành tại các cụm công nghiệp chuyên ngành để tận dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật- xã hội, tiết kiệm chi phí logistics, hạ thấp giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường đầy tiềm năng và khó tính như EU. Nhà nước cần ban hành chính sách kết nối giữa các tập đoàn kinh tế FDI với sự chủ động hợp tác của doanh nghiệp Việt Nam để xây dựng công nghiệp hỗ trợ một số sản phẩm chủ lực, không những để nước ta trở thành công xưởng sản xuất nhiều sản phẩm công nghệ cao của thế giới, mà còn tạo ra giá trị gia tăng ngày càng lớn cho doanh nghiệp trong nước.

Theo thỏa thuận, Việt Nam sẽ giảm 65% thuế nhập khẩu đối với hàng hóa từ EU ngay khi EVFTA có hiệu lực. Phần còn lại sẽ được xóa trong giai đoạn 10 năm.

Cũng theo thỏa thuận, EU sẽ giảm hơn 70% thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam ngay sau khi hiệp định có hiệu lực. Phần còn lại sẽ được xóa thuế trong bảy năm tiếp theo.

Theo thủ tục, EVFTA sẽ phải chờ Nghị viện châu Âu phê chuẩn trước khi có hiệu lực, dự kiến là vào năm 2020.

THANH BA

Chia sẻ