Đào tạo trực tuyến vẫn yếu thế

BÀI & ẢNH: NGUYỄN VĂN

Thứ sáu, 14/02/2020 - 05:22 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Tiềm năng lớn đào tạo trực tuyến cần được quan tâm hơn về chính sách và cơ sở vật chất.

Thời gian qua, để tránh cho kế hoạch đào tạo bị gián đoạn vì học sinh, sinh viên nghỉ học dài ngày, nhiều trường đã chuyển sang hình thức trực tuyến cho sinh viên. Hình thức này đang cho thấy hiệu quả trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, dù đầy tiềm năng, phản ánh xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại, đào tạo trực tuyến vẫn chưa thật sự được chú trọng đúng mức.

Nhiều tiềm năng bỏ ngỏ

Trường đại học (ĐH) Kinh tế quốc dân đã triển khai phương pháp học trực tuyến từ ngày 10-2 cho hơn 25 nghìn sinh viên (SV) của trường. Với phương pháp này, nỗi lo lắng về việc tổ chức lịch học bù cho kịp chương trình sau những ngày nghỉ dài đã vơi đi. Theo TS Lê Việt Thủy, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin của trường, để thực hiện hình thức đào tạo trực tuyến (E-learning) này, nhà trường đã cấp tốc đào tạo, tập huấn cho hơn 800 giảng viên về kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và phần mềm chuyên dụng để thực hiện tốt hình thức giảng dạy trực tuyến. Đây là lớp học đầu tiên mà SV chính quy được áp dụng phương pháp giảng dạy trực tuyến.

Theo TS Phạm Thị Ly (Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá giáo dục ĐH, Trường ĐH Nguyễn Tất Thành), những điều kiện kinh tế - xã hội, đặc biệt là điều kiện về công nghệ thông tin, internet đang tạo ra thuận lợi chưa từng có để Việt Nam phát triển E-learning. Sự phát triển của phương thức đào tạo này là xu thế tất yếu của thời đại, giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập đa dạng và ngày càng nâng cao của người học mà còn góp phần giảm các chi phí tài chính đáng kể cho cả người học lẫn cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng phương thức đào tạo này tại Việt Nam cho đến nay vẫn chỉ dừng lại ở bước khởi đầu. Một số trường ĐH, nhất là khu vực ngoài công lập, có quan tâm đến E-learning nhằm làm giảm chi phí, nhưng chưa thật sự thành công.

Trong giáo dục ĐH, E-learning được áp dụng phổ biến nhất là qua loại hình đào tạo từ xa (ĐTTX). Tuy nhiên, lượng người học theo học phương thức này vẫn khá dè dặt. Theo kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước được thực hiện năm 2018, tính đến hết năm học 2017 - 2018, cả nước có 21 trường ĐH tiến hành các chương trình ĐTTX, nhưng đến nay chỉ có 17 trường ĐH tuyển sinh được. Trong khoảng ba năm trở lại đây, quy mô ĐTTX liên tục giảm sút.

Lý giải cho tình trạng này, nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng, vẫn còn quá nhiều rào cản đối với các khóa học trực tuyến như khoảng cách giữa người dạy và học, thói quen học... Trong khi đó, sự quan tâm, các nguồn lực đầu tư từ xã hội dành cho loại hình đào tạo này vẫn còn rất hạn chế, dẫn đến chất lượng hạ tầng công nghệ không bảo đảm, không hấp dẫn được người học.

Cần quan tâm hơn

Từ một phương thức đào tạo đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, khi đến Việt Nam, E-learning lại trở nên xa lạ với phần đông người học. Đáng chú ý, trong khi phương thức đào tạo này chưa thể phù hợp ngay lập tức với môi trường Việt Nam, chưa được xã hội quan tâm; bản thân cơ quan quản lý Nhà nước, các trường áp dụng mô hình này cũng chưa thật sự quan tâm, đầu tư và coi đây là phương thức đào tạo hữu ích với người học.

Điển hình như trong ĐTTX, Kiểm toán Nhà nước chỉ rõ: Tại thời điểm kiểm toán (tháng 5-2018), các cơ sở giáo dục ĐH chưa báo cáo về Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) kết quả ĐTTX về công tác tuyển sinh, quy mô đào tạo, tổ chức đào tạo, cấp bằng tốt nghiệp trong năm và dự kiến tuyển sinh theo quy định. Bộ GD&ĐT chưa triển khai thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về tuyển sinh, đào tạo, cấp bằng ĐTTX của cơ sở giáo dục ĐH theo các quy định của pháp luật.

Từ thực tế này, Kiểm toán Nhà nước kiến nghị Bộ GD&ĐT có đánh giá về hiệu quả của ĐTTX, từ đó kiểm soát chặt chẽ chất lượng đào tạo cũng như có kế hoạch phù hợp cho hoạt động đào tạo này trong thời gian tới.

Theo PGS,TS Lê Văn Thanh - nguyên Viện trưởng ĐH Mở, Việt Nam vẫn thiếu kế hoạch hành động cụ thể để phát triển phương thức đào tạo này, ngay từ cấp bộ, ngành. Nhiều trường có loại hình ĐTTX chưa thật sự đầu tư công sức, tài chính để sản xuất học liệu và phát triển công nghệ nên không thu hút được người học. Thậm chí, nhiều trường chỉ xem hình thức đào tạo này như việc làm thêm để tăng nguồn thu, dẫn đến xem nhẹ và buông lỏng quản lý, gây mất niềm tin của xã hội. Trong khi đó, ở cấp quản lý, dù khẳng định vai trò to lớn của E-learning, song Bộ GD&ĐT cũng chỉ đề cập chung chung việc đưa phương thức đào tạo này vào nhà trường mà không đề ra giải pháp cụ thể...

Nỗ lực lớn nhất của Việt Nam trong việc đưa E-learning vào giáo dục hiện nay, đó là chúng ta đã gia nhập Mạng E-learning châu Á. Tuy nhiên, theo TS Phạm Thị Ly, chừng đó là chưa đủ để đưa phương thức đào tạo tiên tiến này trở nên thân thiện hơn với xã hội, người học. Bước đi tiếp theo để thực hiện chủ trương đưa phương thức đào tạo này trong giáo dục ĐH, đó là cơ quan quản lý giáo dục cần có kế hoạch hành động cụ thể để phát triển, nâng cao chất lượng, hiệu quả của E-learning. Tiếp đến, cần đẩy mạnh tuyên truyền, nhân rộng E-learning không chỉ trong ngành giáo dục mà còn với toàn xã hội; tăng cường hợp tác doanh nghiệp trong việc xây dựng các website E-learning. Về phía các cơ sở đào tạo, cần xây dựng đội ngũ nhân lực có trình độ để ứng dụng E-learning; các trường cần nghiêm túc trong tiếp cận, triển khai E-learning, nhất là trong loại hình ĐTTX.