Sáng tạo và nét Việt:

Bí quyết “chiến thắng” của lồng đèn Phú Bình

BÀI & ẢNH: HOÀNG ĐỨC NHÃ

Thứ năm, 12/09/2019 - 09:18 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Cảnh tất bật tại làng nghề Phú Bình mỗi dịp Trung thu.

Mỗi dịp Trung thu về, làng lồng đèn Phú Bình, phường 5, quận 11 (TP Hồ Chí Minh) lại rực rỡ với lồng đèn đủ mầu sắc, kích thước, hình dạng. Trải nhiều thịnh suy, có những thời điểm tưởng như thương hiệu sẽ bị chìm vào quên lãng, thế rồi, với niềm yêu nghề, sự sáng tạo, khéo léo, tỉ mỉ của người thợ, lồng đèn Phú Bình đã sống dậy, trở thành nét văn hóa độc đáo của thành phố.

Nhiều thăng trầm

Không khó để tìm đến làng sản xuất lồng đèn Phú Bình, đây chính là điểm đến quen thuộc của người dân TP Hồ Chí Minh mỗi mùa Trung thu về. Con ngõ nhỏ khép mình trên phố Lạc Long Quân bỗng sống động, bắt mắt lạ thường. Ngoài phố là khung cảnh rực rỡ, trong nhà, các gia đình quây quần bên thanh tre, giấy bồi, giấy bóng…, mỗi người một việc, say sưa chế tác lồng đèn để kịp giao hàng cho khách.

Phải mấy phút sau khi tôi vào, ông Nguyễn Hưng Thịnh, 52 tuổi, một nghệ nhân đã có hơn 40 năm gắn bó với những chiếc đèn Trung thu mới biết có khách đến thăm. Bên chén trà pha vội, ông phân trần: “Bạn thông cảm, nhà cửa bề bộn quá, lại phải quay như chong chóng. Hôm nay phải làm hơn trăm chiếc đèn ông sao”.

Ông chỉ ra sàn phòng khách chỉ chưa đầy chục mét vuông, la liệt phụ kiện và một chồng hàng chục chiếc đèn ông sao được xếp cao cả mét. Gia đình ông gồm vợ, con, anh em, cả thảy năm người, trông chiếc đèn đơn giản nhưng phải nhiều người góp tay vào, mỗi người phụ trách một công đoạn thì mới xong được. Cho đến khi hoàn thành, mỗi chiếc đèn phải qua khoảng 10 công đoạn: chẻ tre, kết kẽm, tạo hình, dán giấy, vẽ hoa văn... Trong đó, yếu tố nguyên liệu và tạo hình thường được giao cho người có tay nghề cao, nhiều kinh nghiệm nhất. Khung đèn sẽ được tạo từ nứa hoặc lồ ô, bảo đảm độ mềm dẻo, dễ uốn. Giấy bóng để dán trang trí phải là loại giấy đẹp, đồng mầu. Riêng phần vẽ trang trí, dán họa tiết để tạo “linh hồn” cho chiếc đèn bắt buộc người làm phải có hoa tay, vẽ đẹp, có óc sáng tạo. Tùy theo độ khó, mỗi sản phẩm có thời gian hoàn thiện khác nhau. Có loại, mỗi ngày có thể làm hàng chục chiếc, có loại cỡ lớn, nhiều mầu sắc, họa tiết phức tạp, độc, lạ thì phải vài ngày mới xong.

Cũng bận rộn với những sản phẩm lồng đèn của mình, chị Nguyễn Kim Thu, một thợ làm đèn đã có gần 30 năm kinh nghiệm cho biết, mỗi năm, gia đình chị tranh thủ hai mùa Noel và Trung thu để kiếm tiền, cho nên vào những ngày này, hiếm có khi nào cả nhà được nghỉ ngơi. Có những đơn hàng người ta đặt cả nghìn chiếc. Để kịp đón Trung thu, việc ăn, ngủ cũng chỉ là tranh thủ. Vừa phải kịp giao hàng đúng số lượng, vừa phải bảo đảm sản phẩm đẹp để giữ thương hiệu, cho nên tay nghề phải tốt, người làm phải có tâm.

Người dân ở đây kể, từ thập niên 50 của thế kỷ trước, người dân ở hai làng Bác Cổ và Báo Đáp thuộc tỉnh Hà Nam Ninh (nay là Nam Định) vào miền nam lập nghiệp và chọn mảnh đất Phú Bình để sinh sống, làm ăn. Vốn có nghề làm lồng đèn, giấy kiếng truyền thống, họ cùng nhau tạo dựng cơ nghiệp nơi đất khách. Ban đầu chỉ có một ít gia đình, dần dần, cả con phố nhỏ với gần 100 nhà theo nghề. Trải qua nhiều năm, nhờ mẫu mã đẹp, bắt mắt, chất lượng tốt, Phú Bình trở thành nơi sản xuất lồng đèn nổi tiếng nhất TP Hồ Chí Minh và cung cấp lồng đèn cho khắp miền tây, miền nam và Trung Bộ.

Thời kỳ cực thịnh của làng lồng đèn Phú Bình vào khoảng những năm 1985 - 1995. Thế rồi, mùa Trung thu năm 1996, các gia đình ở Phú Bình vẫn chuẩn bị làm đèn như mọi năm. Thế nhưng, cũng năm đó, đèn trung thu nhiều hình dạng lạ mắt, có bóng đèn, phát nhạc được xuất xứ từ Trung Quốc xuất hiện trên thị trường và nhanh chóng được người dân ưa chuộng. Lồng đèn Phú Bình bị lép vế. Người dân sản xuất nhiều, nhưng hàng không bán được, lâm vào cảnh ế ẩm.

Những mùa Trung thu tiếp theo, tình cảnh không mấy thay đổi, lồng đèn Phú Bình dần chìm vào quên lãng. Nhiều gia đình đã bỏ nghề. Những nhà cố gắng bám trụ thì chỉ biết sản xuất cầm chừng, rồi kiếm thêm nghề tay trái mưu sinh.

Để lồng đèn “sáng” mãi

Cũng như nhiều người trong làng, mấy anh chị em nhà nghệ nhân Nguyễn Hưng Thịnh đã tính đến chuyện bỏ nghề. Nhưng thử làm một số công việc, thấy cuộc sống ngày càng khó khăn, mấy người lại tìm đường trở về nghề cũ. “Từ bé anh em tôi đã quen thuộc và làm lồng đèn thành thạo. Nhớ lắm! Nhớ những mùa trung thu cả nhà quây quần bên những chiếc đèn, cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm, vất vả mà đầm ấm, tình cảm. Bỏ cái nghề đã gắn bó với gia đình mấy chục năm sao đặng. Nhận thấy đèn trung thu Trung Quốc quanh đi quẩn lại chỉ có mấy mẫu mã, chúng tôi nghĩ, cách đánh bại “đối thủ” bằng việc sáng tạo, một yếu tố mà ngày xưa chúng tôi đã từng không tập trung”.

Từ đó ở Phú Bình bắt đầu xuất hiện nhiều mẫu đèn hơn, phù hợp thị hiếu hơn. Thí dụ, năm con gà thì ở đây làm nhiều đèn con gà, năm con heo thì những chiếc đèn hình con heo với nhiều hình dạng để tung ra thị trường. Vì vậy, sau mấy năm buôn bán ế ẩm, khoảng những năm 2004 - 2005, sau 10 năm bị đánh mất thị trường, lồng đèn Phú Bình dần lấy lại được sự tin yêu của khách hàng, không chỉ sản xuất cho Trung thu, mà dịp Noel cũng rất đông khách, ông Thịnh cho biết.

Sau khi hồi sinh, phát triển lại làng nghề, làng Phú Bình chỉ còn khoảng chục hộ làm lồng đèn, nhưng làng vẫn phần nào giữ được sự nhộn nhịp mỗi khi Trung thu cận kề. Mỗi ngày, hàng nghìn chiếc lồng đèn được sản xuất rồi theo những chuyến xe đi khắp thành phố. Trừ chi phí, chỉ với những sản phẩm đại trà mùa Trung thu mỗi nhà cũng kiếm được ít nhất khoảng một triệu đồng/ngày, chưa kể các sản phẩm kích thước lớn, công phu có giá tiền triệu. Mặc dù không như thời cực thịnh vào thế kỷ trước, nhưng lồng đèn cũng dần tạo ra sinh kế cho người dân.

Theo các nghệ nhân, có lẽ, những mẫu đèn ở Phú Bình được ưa chuộng bởi do bàn tay người Việt Nam làm, giữ gìn nguyên vẹn nét văn hóa Việt, bản sắc Việt. Vừa gần gũi, lại có sự tỉ mỉ, tinh tế cho nên làng lồng đèn Phú Bình sẽ còn phát triển. Chỉ tay về những chiếc đèn hình con bướm được giăng mắc khắp nhà, bà Nguyễn Thị Ánh Loan, chủ xưởng sản xuất lồng đèn Ánh Loan cho biết, đây là một trong những loại đèn khó làm nhất. Mỗi chiếc cần năm loại nan khác nhau. Chọn nguyên liệu phải thật chuẩn đã đành, khi chẻ, uốn cũng phải thật đều tay. Khi vẽ cũng phải thật mềm mại, uyển chuyển thì sản phẩm mới có hồn. Ngoài những chiếc lồng đèn, theo nhu cầu của khách đặt, các nghệ nhân ở đây cũng đã tự nghiên cứu, học hỏi để làm ra những chiếc đèn kéo quân. Những chiếc đèn này thường phải mất hai đến ba ngày mới làm xong. Giá loại đèn này khá cao, cho nên khá kén khách, chỉ ai đó đặt với số lượng nhiều, nghệ nhân ở đây mới dám làm.

Người làng Phú Bình vẫn tự tin, rằng với bàn tay sáng tạo, sản phẩm mang dáng dấp, hồn cốt người Việt thì không phải lo những chiếc lồng đèn ở đây bị khách hàng quay lưng. Điều họ lo lắng nhất, là những nghệ nhân đều đã hơn 50 tuổi, chỉ tầm chục năm nữa, khi mắt đã mờ, tay đã mỏi, họ sẽ không tiếp tục làm được các sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật, tỉ mỉ này. Trong khi đó, thế hệ kế cận, mặc dù đều nắm được kỹ thuật làm đèn, nhưng đều không muốn nối nghiệp cha ông vì công việc khó khăn, vất vả, thu nhập lại thua nhiều ngành nghề khác. “Tôi có con trai vẽ rất đẹp, rất khéo tay, hoàn toàn có thể thành thợ làm đèn giỏi. Nhưng nó cũng như lớp trẻ ở đây, không muốn làm nghề này nữa. Chẳng biết sau thế hệ chúng tôi, ai sẽ là người kế tục truyền thống làng nghề lồng đèn Phú Bình”, chị Nguyễn Kim Thu lo lắng.

Nói về các “ngón nghề” của làng Phú Bình, ông Nguyễn Hưng Thịnh chia sẻ, điều mà ông tiếc nuối nhất là cách làm đèn “ngọa long” (rồng nằm), dài hơn 2 m vốn là thương hiệu của gia đình ông đã bị thất truyền. Ông kể, những năm 80 của thế kỷ trước, người ta vẫn gọi nhà ông là nhà “bà rồng” bởi chiếc đèn rồng đặc trưng. “Cách đây hơn 10 năm, bố tôi đột ngột ra đi mà chưa kịp truyền nghề làm khung đèn rồng cho anh em tôi. Mấy anh em cũng đã rất nhiều lần cố nhớ lại, bắt chước làm thử. Nghe qua thì có vẻ dễ, nhưng chúng tôi thử nhiều lần mà vẫn không đạt. Chiếc đèn độc nhất vô nhị của nhà “bà rồng” cũng từ đó thất truyền, không cách nào khôi phục lại được”, ông Thịnh bùi ngùi.