Lãi suất huy động tăng cục bộ

ĐẶNG HÀ MY

Thứ tư, 04/09/2019 - 11:13 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Lãi suất tiền đồng được giới phân tích tài chính dự báo khó có thể giảm trong thời gian gần. Ảnh: NAM ANH

Ðầu năm 2019, các ngân hàng (NH) được sử dụng 40% vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn theo quy định tại Thông tư 19/2017/TT-NHNN (TT 19). Sau đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đưa ra kế hoạch giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Áp lực tái cơ cấu nguồn vốn đáp ứng lộ trình giảm tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để sử dụng cho vay trung và dài hạn đang khiến nhiều NH phải tăng lãi suất huy động (LSHĐ) tiền gửi kỳ hạn hơn 12 tháng.

Ðối với chứng chỉ tiền gửi, NH Bản Việt đã phát hành sản phẩm này với lãi suất 10,2%/năm cho kỳ hạn 60 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ. Kỳ hạn 24 - 48 tháng, lãi suất dao động 9,5 - 10%/năm. Ðối với kỳ hạn 12 tháng, mức lãi suất là 10%, áp dụng cho số tiền đầu tư từ 100 triệu đồng; khách hàng lĩnh lãi sáu tháng một lần, lãi suất là 9,7%/năm. Tương tự, LienVietPostBank có chương trình huy động vốn bằng chứng chỉ tiền gửi cho các kỳ hạn 15 tháng, 18 tháng, 24 tháng và 36 tháng, với lãi suất 8,1%/năm, cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm cùng kỳ hạn từ 0,7 - 1%/năm. SHB thì phát hành 10.000 tỷ đồng chứng chỉ tiền gửi với mức lãi suất đến 8,9%/năm. VIB phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ hạn 61 tháng, trả lãi 12 tháng/lần với lãi suất 9,1%/năm, số tiền gửi tối thiểu 10 triệu đồng.

Ðối với lãi suất tiền gửi tiết kiệm, Nam A Bank đang áp dụng mức 8,7%/năm cho sản phẩm tiền gửi online với kỳ hạn 36 tháng và nhận lãi cuối kỳ. Tại một số NH khác như: ABBank, CBBank, lãi suất từ 8 - 8,2%/năm đối với kỳ hạn tiền gửi hơn 12 tháng…

Trước áp lực tái cơ cấu nguồn vốn đáp ứng lộ trình siết vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, lãi suất tiền đồng được giới phân tích tài chính dự báo khó có thể giảm. Thực tế, cho vay trung và dài hạn thường hấp dẫn hơn so cho vay ngắn hạn, do mang lại biên lãi suất cao hơn. Ðiều này cũng đồng nghĩa rủi ro tiềm ẩn cho hệ thống trong tương lai lớn hơn, vì cho vay kỳ hạn càng dài thì rủi ro cân đối kỳ hạn càng cao, nhất là trong điều kiện tỷ trọng tiền gửi ngắn hạn vẫn chiếm chủ yếu trong cơ cấu nguồn vốn huy động nói chung, nên sức ép huy động càng lớn.

Chuyên gia tài chính - NH Bùi Quang Tín cho rằng, tâm lý của người Việt Nam thường chọn gửi tiền kỳ hạn ngắn, trong khi đó, các NH lại đẩy mạnh cho vay trung, dài hạn. Một phần vốn cho vay vào phân khúc bất động sản, nhà ở chủ yếu dài hạn nên sẽ khó khăn trong việc tái cơ cấu nguồn đáp ứng lộ trình siết vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn. Ðó là lý do cơ bản khiến LSHĐ tiền đồng có xu hướng đi lên.

Thực tế, các NHTM đã và đang nỗ lực cân đối lại cơ cấu cho vay. Khảo sát hơn 20 NH đã công bố báo cáo tài chính quý II-2019 cho thấy, tỷ lệ vốn cho vay trung và dài hạn trung bình của nhóm giảm xuống 54,64% so mức 55,33% hồi đầu năm. Trong đó, SeABank cải thiện tỷ lệ vốn cho vay trung và dài hạn từ 72,93% thời điểm đầu năm xuống 66,86% vào cuối quý II-2019; tỷ lệ này tại VIB giảm từ 84,9% xuống 81,83%; TPBank, Sacombank, VPBank cũng có mức giảm đáng kể.

Theo nhiều chuyên gia tài chính –NH, đầu năm 2019, các NH được sử dụng 40% vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn theo quy định tại TT 19. Sau đó, NHNN đưa ra kế hoạch giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Sở dĩ, NHNN xây dựng lộ trình siết vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn là do tỷ lệ cho vay trung và dài hạn của nhiều NH ở mức cao, phần lớn nằm ở phân khúc bất động sản, kể cả với tín dụng cho cá nhân vay mua nhà. Theo đó, rủi ro thanh khoản và nợ xấu là nguy cơ khó tránh khỏi. Với lộ trình siết vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn nêu trên của cơ quan quản lý, lãi suất đầu vào tăng nên lãi suất đầu ra được nhận định sẽ khó giảm. Mùa kinh doanh cao điểm cuối năm sắp tới, các doanh nghiệp cần nhiều vốn hơn, trong khi NH khó được nới “room” tín dụng, nên lãi vay có thể sẽ tăng.

Ở góc độ cơ quan quản lý, ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Chính sách tiền tệ (NHNN) cho rằng, động thái tăng LSHĐ chỉ là cục bộ, từ phía các NH quy mô nhỏ với mục đích để giữ thị phần, khách hàng. Hơn nữa, các NH này cũng chỉ tăng ở một vài kỳ hạn, chủ yếu là kỳ hạn dài; thậm chí có một số NH chỉ tăng lãi suất ở kỳ hạn rất dài. Chưa kể, để được hưởng lãi suất trên còn phải kèm với một số điều kiện khoản tiền gửi có giá trị lớn từ chục tỷ đến hàng trăm tỷ đồng nên không phải ai cũng có điều kiện để gửi. Mặt khác, để đánh giá việc tăng lãi suất của các NH có khiến mặt bằng LSHĐ tăng hay không cần phải xem xét một cách toàn diện. Về hình thức, cùng là hiện tượng tăng, nhưng có NH trước đây để mức lãi suất thấp nên giờ họ tăng lãi suất lên cho ngang bằng thị trường; hoặc có NH trước giảm, giờ tăng trở lại theo xu hướng để giữ thị phần… Vì vậy, cần phải xem xét ở cả hai góc độ: so với thị trường và so với chính các NH thì mới có thể đánh giá chính xác được mặt bằng LSHĐ của các NH có đang ở mức cao hay không.

Đối với việc các NH tăng cường phát hành chứng chỉ, theo ông Phạm Thanh Hà, mục đích chính là để cơ cấu lại nguồn vốn hoặc tăng tỷ lệ an toàn vốn. Còn xét về mặt an toàn hệ thống thì không có vấn đề gì về thanh khoản. Lãi suất liên NH vẫn ở mức thấp và tín phiếu vẫn còn, tức là NHNN vẫn đang “cất hộ” tiền của thị trường. Số vốn khả dụng, tức là số dư của các NH so dự trữ bắt buộc là khá nhiều. Tất cả điều này cho thấy thanh khoản của thị trường vẫn tốt.