Loay hoay chinh phục thị trường trong nước

ĐẶNG THÀNH

Thứ tư, 26/06/2019 - 01:54 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Các doanh nghiệp thủy sản đang đẩy mạnh hoạt động kinh doanh và tiêu thụ tại thị trường trong nước. Ảnh: LAM ANH

Trong khi các doanh nghiệp thủy sản (DNTS) vẫn loay hoay với thị trường trong nước (TTTN), chinh phục người tiêu dùng (NTD) Việt Nam, việc đưa ra các quy định ngặt nghèo về hàm lượng hóa chất, kháng sinh càng khiến ngành này khó khăn hơn, nhất là trong bối cảnh xuất khẩu (XK) gặp phải nhiều rào cản thương mại.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), tháng 5-2019, ước giá trị nhập khẩu (NK) sản phẩm thủy sản (SPTS) đạt 173 triệu USD, đưa tổng giá trị thủy sản NK năm tháng đầu năm lên 735 triệu USD, tăng 5,3% so cùng kỳ năm 2018. Điều đó có nghĩa thủy sản “ngoại” cũng đang cạnh tranh trực tiếp với hàng trong nước. Về XK, trong bốn tháng đầu năm 2019, XK thủy sản Việt Nam sang các thị trường đạt 2,43 tỷ USD, giảm 1,3% so cùng kỳ. Điều này cho thấy việc đẩy mạnh kinh doanh và tiêu thụ thủy sản tại TTTN là vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm tính ổn định cho ngành thủy sản.

Theo Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và XK thủy sản Việt Nam (VASEP) Trương Đình Hòe, TTTN gần 100 triệu dân, trong đó 80% NTD sử dụng SPTS. Trong bối cảnh hội nhập, không riêng Việt Nam có các SPTS, nhiều quốc gia khác như: Ecuador, Ấn Độ, Thái-lan, Trung Quốc… cũng có nhiều sản phẩm tương tự. Việc bỏ ngỏ TTTN sẽ tạo cơ hội lớn cho các quốc gia khác đưa sản phẩm vào Việt Nam. Đến lúc đó, các DN Việt Nam muốn quay lại cạnh tranh cũng khó. Thực hiện chủ trương của Chính phủ “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, các DNTS đã đẩy mạnh hoạt động kinh doanh và tiêu thụ SPTS tại TTTN. Tuy nhiên, theo ý kiến từ các DN gửi về, quá trình kinh doanh, tiêu thụ SPTS tại TTTN đang vướng mắc một số vấn đề.

Trong khi các DNTS vẫn loay hoay với TTTN, chinh phục NTD Việt, việc đưa ra các quy định ngặt nghèo về hàm lượng hóa chất, kháng sinh càng khiến ngành này khó khăn hơn. Đơn cử, cá tra Việt Nam đã có mặt tại thị trường của hơn 140 quốc gia, trong đó có những thị trường khó tính như: châu Âu, Mỹ, Nhật Bản… nhưng nhiều NTD trong nước chưa mặn mà sử dụng. Cụ thể, tại Phụ lục 2 Thông tư 10/2016/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT đã quy định Enrofloxacin và Ciprofloxacin vào danh mục “Hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh động vật thủy sản” nhưng không quy định ngưỡng giới hạn phân tích tối thiểu (MRL) đối với các chỉ tiêu này. Vì vậy, đã gây ra nhiều khó khăn cho DN trong việc sản xuất và kinh doanh thủy sản tại TTTN. Trong khi đó, các lô hàng XK vào thị trường EU (một trong những thị trường có yêu cầu nghiêm ngặt nhất về an toàn thực phẩm) đều cho phép ngưỡng phát hiện mức dư lượng.

Theo ông Nguyễn Văn Đạo, Tổng Giám đốc Công ty CP Gò Đàng, các DN cá tra đặc biệt quan tâm tới XK chứ ít ai ngó ngàng TTTN, hơn 95% dùng cho XK vì bán được lượng lớn, đem tiền về liền. Hiện, sản phẩm giá trị gia tăng của cá tra có hơn 50 mặt hàng nhưng chủ yếu là hàng XK, trong nước chỉ có 6 - 7 mặt hàng. Trong khi đó, thói quen tiêu dùng của người Việt Nam vẫn ưa chuộng sản phẩm tươi sống. Do vậy, việc đẩy mạnh truyền thông thông qua các hội chợ là hết sức quan trọng, qua đó các DN có thể kết nối, tạo đầu ra bền vững cho sản phẩm cá tra. Để thị trường chấp nhận sản phẩm cá tra cũng như SPTS cần phải có thời gian, kế hoạch và lộ trình; cần đẩy mạnh quảng bá, giới thiệu sản phẩm. Để chinh phục TTTN, trong thời gian tới, DN cần phát triển thêm nhiều sản phẩm phù hợp thị hiếu của NTD trong nước.

Theo ông Nguyễn Hữu Miền, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Công ty CP chế biến thủy sản XK Hạ Long, ngay từ đầu, chiến lược của DN này là chinh phục TTTN. DN tiến hành đa dạng sản phẩm, đa dạng kênh phân phối để cung cấp vào TTTN. Tại thị trường Hà Nội, DN đã lắp đặt hệ thống kho lạnh tại chỗ để thuận tiện đáp ứng yêu cầu của các kênh phân phối, giảm thiểu chi phí vận chuyển xa. Tuy nhiên, chỉ một chút lơ là, sản phẩm làm ra của DN sẽ không thể có chỗ đứng trên thương trường. Ngoài sự cạnh tranh quyết liệt không chỉ với các nhà sản xuất trong nước có quy mô lớn mà còn cả với các DN lớn từ nước ngoài đang đầu tư ồ ạt vào Việt Nam, điểm khó khăn đối với các DN khi khai thác TTTN là vấn đề chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, để thúc đẩy tiêu thụ thủy sản tại TTTN, cần rà soát lại những chính sách đang thực hiện, qua đó bổ sung, thay thế những chính sách không còn phù hợp, nghiên cứu đề xuất thêm những chính sách mới nhằm thu hút nhà đầu tư, liên kết chuỗi sản xuất, tiêu thụ. Bên cạnh đó, thực hiện việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, tạo lòng tin với NTD, gia tăng giá trị đối với sản phẩm… Chính phủ và chính quyền địa phương cần có sự hỗ trợ, từ việc đầu tư hệ thống hạ tầng, giảm chi phí logistics, qua đó giúp hạ giá thành sản phẩm, đến việc đẩy mạnh phát triển các kênh phân phối để hàng thủy sản chinh phục NTD Việt.

Theo ông Đào Trọng Hiếu, Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, vấn đề thiếu thông tin đang là rào cản trong việc phát triển thị trường tiêu thụ thủy sản trong nước. Nhiều NTD vẫn chưa biết đến con cá ngừ, cá tra… của Việt Nam. Nguyên nhân là do khâu phân phối SPTS còn nhiều hạn chế, đơn hàng lẻ tẻ, không lớn như XK với hàng chục, thậm chí hàng trăm container cùng lúc. Đặc biệt, chi phí vận chuyển từ miền nam ra miền bắc cao khiến giá thành sản phẩm bị đẩy lên cao, các DN e ngại. Hiện nay, nhiều DN thủy sản quan niệm TTTN dễ tính nên không chú ý tới chất lượng. Cứ cái gì ngon, bổ, an toàn thì đem đi XK. Tuy nhiên, cần xem xét lại quan điểm này. Người Việt Nam cũng cần phải được sử dụng sản phẩm an toàn, có chất lượng bằng, thậm chí cao hơn sản phẩm XK.