Ổn định lãi suất cho vay

ĐẶNG HÀ MY

Thứ hai, 17/06/2019 - 07:09 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Mặc dù lãi suất huy động bắt đầu tăng nhưng lãi suất cho vay với sản xuất, kinh doanh vẫn tương đối ổn định. Ảnh: NAM ANH

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong tuần cuối tháng 5-2019, lãi suất huy động (LSHĐ) tiền đồng Việt Nam (VND) phổ biến ở mức 0,5-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới một tháng. Tuy nhiên, kênh tiền gửi tiết kiệm, trái phiếu (TP), chứng chỉ tiền gửi (CCTG) ở NH đang bị cạnh tranh khá mạnh từ các kênh đầu tư khác, đặc biệt là kênh đầu tư TP doanh nghiệp (DN) bất động sản (BĐS).

Khảo sát thực tế cho thấy, mức lãi suất TP phổ biến mà các NH đưa ra là 7,5% - 8,9%/năm, kỳ hạn thông thường từ ba năm trở lên, nhiều nhất là 5 năm. Trong khi đó, lãi suất TP của các DN BĐS lên tới 11 - 14,5%/năm. Mới đây, VietABank thực hiện phát hành CCTG ghi danh lãi suất lên tới 9,1%/năm với nhận lãi cuối kỳ và 8,38%/năm với hình thức nhận lãi hằng tháng, kéo dài đến hết tháng 9-2019. SHB áp dụng lãi suất lên tới 8,9%/năm đối với CCTG cho khách hàng cá nhân, DN. Tương tự, BIDV cũng có chương trình CCTG trung, dài hạn từ đầu tháng 3, lãi suất 7,6%/năm cho hình thức lãi suất cố định và 7,5%/ năm cho lãi suất thả nổi.

Tuy nhiên, người gửi tiền cũng không dễ được hưởng mức lãi suất cao, bởi mức lãi suất càng cao có những điều kiện càng khắt khe. Chẳng hạn, có NH công bố mức lãi suất 8,9%/năm nhưng chỉ áp dụng cho kỳ hạn gửi 36 tháng kèm điều kiện là số tiền gửi từ hai tỷ đồng trở lên. Một số NH có mức lãi suất thấp hơn thì điều kiện ít hơn, như ACB áp dụng lãi suất cho TP là lãi suất cố định trong suốt thời hạn phát hành, cụ thể tùy theo điều kiện thị trường, nhu cầu của nhà đầu tư, nhưng tối đa không quá 6,75%/năm đối với kỳ hạn ba năm và 6,7% đối với kỳ hạn hai năm.

Theo nhận định của các chuyên gia, sở dĩ các NH phải đẩy mạnh phát hành TP và CCTG gửi với lãi suất ở mức cao kể từ đầu năm đến nay là vì nhu cầu vốn trung, dài hạn lớn. Ngoài ra, kênh đầu tư TP cũng đang bị cạnh tranh khá mạnh từ các DN BĐS và chứng khoán. Các NH phải đẩy cao lãi suất để tăng tính cạnh tranh.

Theo thống kê, trong năm tháng đầu năm 2019, có 61.037 tỷ đồng TPDN được phát hành, nhiều DN BĐS phát hành với lãi suất lên tới 11-14,5%/năm. Trong đó, nhóm ngành NH phát hành 17.600 tỷ đồng. Theo khảo sát, mức lãi suất trái phiếu phổ biến mà các NH đưa ra là 6,4 - 7,5%/năm, kỳ hạn thông thường từ ba năm trở lên, nhiều nhất là 5 năm. Các DN BĐS, xây dựng, hạ tầng phát hành 16.200 tỷ đồng, là nhóm ngành có lãi suất ưu đãi (coupon) cao nhất, phổ biến hơn 10%/năm. Nhóm các DN chứng khoán huy động 15.748 tỷ đồng thông qua hình thức phát hành TP năm tháng đầu năm, lãi suất coupon từ 8 - 11,3%, kỳ hạn phổ biến từ một - ba năm. Không chỉ lãi suất chứng chỉ tiền gửi, TP được đẩy lên cao, LSHĐ tiền gửi tiết kiệm cũng được một số NH duy trì ở mức cao kể từ đầu năm đến nay.

Theo thống kê của NHNN, trong tuần cuối tháng 5-2019, LSHĐ VND phổ biến ở mức 0,5 - 1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới một tháng. Lãi suất đối với tiền gửi có kỳ hạn từ một tháng đến dưới sáu tháng phổ biến từ 4,5 - 5,5%/năm. Kỳ hạn sáu tháng đến dưới 12 tháng từ 5,5 - 6,5%/năm. Kỳ hạn hơn 12 tháng ở mức 6,6 - 7,3%/năm. Tuy nhiên, thực tế kỳ hạn 12 tháng trở lên ghi nhận sự điều chỉnh TP ở các NH, thậm chí một số NH thông báo lãi suất cao nhất lên tới 8,5 - 8,7%/ năm kỳ hạn từ 36 tháng. Có một số NH lớn điều chỉnh giảm 0,3 - 0,4 điểm phần trăm nhưng cũng có NH điều chỉnh tăng thêm 0,2 - 0,3 điểm phần trăm. Mức lãi suất hiện tại khác biệt khá nhiều giữa các NH, dao động trong vùng 6,4% - 7,8%/năm. Tuy nhiên, LSHĐ ổn định ở mức hiện tại vì các NHTM cần bảo đảm đủ nguồn để thực hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh phải cạnh tranh với các kênh đầu tư khác đang phát triển nhanh và nhu cầu gia tăng số dư huy động để đáp ứng lộ trình tiếp tục giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 40% hiện nay xuống 30%.

Đối với lãi suất cho vay (LSCV), mặc dù LSHĐ bắt đầu tăng và thiết lập mặt bằng mới gần sáu tháng nay nhưng lãi suất cho vay với sản xuất, kinh doanh vẫn tương đối ổn định, chưa kể còn có một số gói vay ưu đãi với một số ngành nghề nhất định ở các NH lớn. Kế hoạch lợi nhuận năm 2019 của 17 NH niêm yết chỉ tăng 18% so năm 2018, thấp hơn nhiều mức tăng 31% của năm 2018, trong khi số NH đã đạt hoặc đặt mục tiêu chuẩn Basel II tăng lên cho thấy các NHTM đã chú trọng nhiều hơn đến tính bền vững thay vì chạy theo tăng trưởng ngắn hạn. Việc mở rộng nguồn thu, thay đổi cấu trúc khách hàng, quản lý chi phí hiệu quả… sẽ được ưu tiên lựa chọn thay vì tăng LSCV.

Nói về kết quả điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) và hoạt động NH những tháng đầu năm 2019, định hướng những tháng cuối năm 2019 tại buổi gặp mặt báo chí mới đây, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, trên cơ sở các mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ và diễn biến kinh tế vĩ mô (KTVM), tiền tệ, NHNN tiếp tục điều hành CSTT trong sáu tháng cuối năm chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa chính sách tài khóa và các chính sách KTVM khác nhằm kiểm soát lạm phát; duy trì ổn định KTVM, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ (TTTT) và ngoại hối. Cụ thể, điều hành nghiệp vụ thị trường mở, điều tiết thanh khoản của các tổ chức tín dụng (TCTD) ở mức hợp lý, ổn định TTTT, góp phần thực hiện mục tiêu CSTT. Điều hành công cụ dự trữ bắt buộc đồng bộ với các công cụ CSTT khác, phù hợp diễn biến TTTT và mục tiêu CSTT. NHNN cũng đã điều hành lãi suất phù hợp diễn biến KTVM và TTTT, giữ ổn định các mức lãi suất điều hành và chỉ đạo TCTD rà soát, cân đối tài chính để áp dụng LSCV hợp lý trên cơ sở LSHĐ và mức độ rủi ro của khoản vay, bảo đảm an toàn tài chính.