Doanh nghiệp phải tự quyết định tương lai

QUỐC BÌNH

Thứ tư, 22/05/2019 - 02:48 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Bản thân doanh nghiệp mới có thể tự đánh giá rủi ro, cơ hội của mình. Ảnh: ANH NAM

Dù ít hơn về số lượng nhưng doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lại chiếm tới hơn 70% kim ngạch xuất khẩu (XK). Rõ ràng, DN Việt Nam cần nỗ lực để thật sự trở thành lực lượng DN đủ sức cạnh tranh ở thị trường trong nước, quốc tế và ứng phó các cú sốc bên ngoài.

Khi bàn về DN Việt Nam tại Hội nghị ổn định kinh tế và cạnh tranh DN Việt Nam, TS Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ cho biết, không riêng mình tôi mà ai yêu đất nước Việt Nam khi nói tới năng lực DN Việt Nam đều quan ngại với “sức khỏe” khá yếu của DN hiện nay.

Cùng cảm xúc này, TS Lương Minh Huân, Viện Phát triển DN, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho biết, số lượng DN tham gia trực tiếp vào xuất, nhập khẩu năm 2017 là 79.800 DN (chiếm 12,2% tổng số DN đang hoạt động); năm 2018 là 85.600 DN (gần 12% tổng số DN đang hoạt động). Thực tế, Báo cáo triển vọng phát triển châu Á của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho thấy, chỉ có 21% các DN nhỏ và vừa (NVV) Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu so 30% của Thái-lan và 46% của Malaysia.

Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Đức Kiên, nền kinh tế Việt Nam có nhiều điểm sáng nhưng vẫn nhìn thấy sự không bền vững. Giai đoạn 2009-2010, kim ngạch XK của DN Việt Nam so DN FDI là tương đương, giờ sau chín năm, khối DN FDI vươn lên hơn 70%. Đến một ngày nào đó, XK sẽ thuộc về khối này. Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế hơn 30 năm nhưng dường như cách làm của DN Việt Nam vẫn như những ngày đầu, tức là làm xong sản phẩm mới đi tìm thị trường. Tại sao DN không chủ động tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, tự định giá và quyết định số phận chính sản phẩm của mình?

Dẫn lại Báo cáo Tổng điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục Thống kê, chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực cho biết, hiệu quả kinh doanh (tính bằng lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản - ROA) bình quân năm 2016 của khối DN chỉ đạt 2,7%; trong đó khu vực DN FDI có hiệu suất sinh lời cao nhất (6,9%); tiếp đến là khu vực DN nhà nước (2,6%) và thấp nhất là khu vực DN ngoài nhà nước (1,4%, cao hơn không đáng kể mức 1,2% năm 2011).

Về tình hình phát triển DN, mức tăng trưởng bắt đầu có xu hướng chững lại từ giữa năm 2018, trong khi số DN tạm ngừng kinh doanh và giải thể có những giai đoạn tăng mạnh hơn 30 - 40% so cùng kỳ. Nguyên nhân khiến hiệu quả kinh doanh của khối DN ngoài nhà nước chưa cao có thể do hạn chế về quy mô, công nghệ, quản trị điều hành DN; môi trường kinh doanh vẫn là một trở ngại… Tuy nhiên, TS Cấn Văn Lực cho rằng, một trong những nguyên nhân lớn nhất chính là nội tại DN… dẫn đến khả năng ứng phó các cú sốc bên ngoài chưa tốt.

Tại Hội nghị, trước những thắc mắc của các DN, ông Hà Huy Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia cho rằng, DN phải tự dự báo và đánh giá rủi ro, đưa ra kịch bản cho mình. Nếu kịch bản thay đổi USD bằng nhân dân tệ (NDT) thì rủi ro gì xảy ra, còn nếu giữ nguyên sẽ ra sao. Trên cơ sở đó chọn phương án ít rủi ro nhất. Bản thân DN mới có thể tự đánh giá rủi ro, cơ hội của mình trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc hiện nay.

Cùng quan điểm này, TS Trần Đình Thiên cho rằng, phương án hợp lý nhất hoàn toàn phụ thuộc vào DN, chỉ có DN mới có thể tự quyết định tương lai cho mình. Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc sẽ đem tới nhiều cơ hội nhưng cơ hội chỉ dành cho người có năng lực. Thời cơ bao giờ cũng rất lớn nhưng chỉ dành cho những người giỏi, người tài. Giải pháp không có sẵn cho bất cứ một câu hỏi nào mà tuỳ điều kiện mỗi người. Thời gian vừa qua, Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) và chúng ta luôn đánh giá đó là cơ hội rất lớn. Tuy nhiên, ai là người hưởng thành quả của lợi ích cắt giảm thuế quan? Câu trả lời chính là khối DN FDI - chiếm hơn 70% kim ngạch XK. Điều này cho thấy cơ hội là rất lớn nhưng chúng ta không có năng lực thì người khác sẽ được thụ hưởng. Hiện nay, số DN lớn, đủ sức cạnh tranh với DN nước ngoài tại Việt Nam và cạnh tranh trên trường quốc tế chỉ “đếm trên đầu ngón tay”. Quan trọng nhất vẫn là chính bản thân mỗi DN cần tìm ra lợi thế của mình để nâng cao sức cạnh tranh.

Phó Viện trưởng Nghiên cứu quản lý T.Ư (CIEM) Phan Đức Hiếu cho rằng, khái niệm quản trị còn khá xa xỉ với các DN của Việt Nam. Về mức độ quản trị của DN, các DN Việt Nam mới đang chuyển từ giai đoạn thức tỉnh, bắt đầu nâng cao nhận thức chứ chưa áp dụng các chuẩn mực quản trị quốc tế. Những DN có trình độ quản trị tốt nhất của Việt Nam mới chỉ đạt điểm số 41/120 điểm trên bảng xếp hạng các quốc gia trên thế giới - xếp sau các quốc gia trong khu vực như: Indonesia, Philippines, Thái-lan. Bình chọn DN có trình độ quản trị tốt nhất, đa số DN mới đang nằm ở mức độ đáng khen vì sự nỗ lực, chứ chưa đến mức độ tạm gọi là trung bình. Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, nâng cao chất lượng văn bản pháp luật có ảnh hưởng tới trình độ quản trị của DN. Minh chứng dễ thấy nhất là luật pháp của Thái-lan còn yếu hơn Singapore nhưng xếp hạng quản trị DN vẫn nằm tốp đầu khu vực… Do vậy, quản trị DN là nhu cầu bức thiết của mỗi DN, chừng nào bản thân chủ DN chậm thay đổi, DN sẽ càng kém cạnh tranh, cộng đồng DN Việt nói chung sẽ càng yếu. Cam kết quản trị tốt là cam kết của DN, quản trị phải là quản trị thực chất, chứ không phải hình thức. Quản trị trước hết vì lợi ích của chính DN.