Xây dựng nền tài chính an toàn, hiệu quả và hiệu lực

SƠN ĐÀ

Thứ năm, 11/07/2019 - 11:32 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Cục Thuế Hà Nội cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế. Ảnh: HẢI NAM

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) và quản lý nợ công nhằm đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới. Thực hiện các Nghị quyết (NQ) của Đảng, Bộ Tài chính đã và đang đề ra nhiều giải pháp để xây dựng một nền tài chính quốc gia an toàn, hiệu quả, hiệu lực.

Từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách

Ngay sau khi NQ Đại hội Đảng XII được ban hành, căn cứ vào tình hình thực tế, Bộ Tài chính đã nghiên cứu và báo cáo Ban Cán sự Đảng Chính phủ, trình cấp có thẩm quyền ban hành NQ số 07-NQ/T.Ư về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững và trên cơ sở đó trình Quốc hội (QH) ban hành NQ số 25/2016/QH14 về Kế hoạch Tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020.

Những NQ này xác định mục tiêu cơ cấu lại NSNN, nợ công dựa trên bốn thành phần quan trọng, gồm: Cơ cấu lại thu NS theo hướng tăng thu nội địa để bù đắp sự suy giảm thu cân đối xuất, nhập khẩu, thu dầu thô; cơ cấu lại chi NS có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các ưu tiên trung dài hạn của nền kinh tế, giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên, tăng hợp lý tỷ trọng chi đầu tư; giảm bội chi NS và cơ cấu lại nợ công, giảm rủi ro kỳ hạn, rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất, kiểm soát nợ công trong giới hạn quy định.

Các NQ nêu trên cũng đề ra hệ thống các nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, trong đó có nhiệm vụ, giải pháp về: Cơ cấu lại chi NS gắn đổi mới mạnh mẽ khu vực sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ và tinh giản bộ máy, biên chế; nghiên cứu, rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, ngành, cơ quan T.Ư, địa phương theo hướng tinh gọn, gắn trách nhiệm quyết định chi NS, vay nợ công với trách nhiệm quản lý NSNN và trả nợ công... Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã chủ động trình Chính phủ để trình cấp có thẩm quyền ban hành các đề án Luật, Nghị định, thông tư để làm cơ sở pháp lý thực hiện. Hiện nay, Bộ Tài chính cũng đang hoàn thiện dự án Luật Chứng khoán sửa đổi để trình QH thông qua tại kỳ họp thứ 8 (tháng 10-2019), đồng thời nghiên cứu xây dựng các chính sách nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp (DN) nhỏ, siêu nhỏ, các chính sách về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập…

Cơ cấu lại NSNN và nợ công

Song hành công tác từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách, từ năm 2016 đến nay, ngành tài chính đã tích cực, chủ động phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực các NQ số 07/NQ-T.Ư, NQ số 25/2016/QH14 của QH và bước đầu đã có những kết quả tích cực như: hệ thống thu NSNN tiếp tục được điều chỉnh theo hướng giảm nghĩa vụ đóng góp, thực hiện các cam kết hội nhập; định hướng tiêu dùng; khai thác, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, thiên nhiên. Cụ thể là từ ngày 1-1-2016 thuế suất thuế TNDN phổ thông đã được điều chỉnh giảm từ 22% xuống còn 20%, DN được hưởng ưu đãi thuế suất thuế TNDN 20% được giảm xuống 17%; miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với cá nhân, hộ gia đình có số thuế sử dụng đất phi nông nghiệp từ 50.000 đồng trở xuống...; sửa đổi, bổ sung biểu mức thuế suất thuế tài nguyên theo hướng tăng thuế suất thuế tài nguyên đối với nhóm khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại và nước thiên nhiên...

Công tác quản lý thu cũng đã được hiện đại hóa, minh bạch hóa bằng cách thực hiện hóa đơn điện tử, khai và nộp thuế qua mạng..., đơn giản thủ tục, rút ngắn thời gian và chi phí hành chính thuế. Đến nay, hệ thống khai thuế qua mạng đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố với 99,92% số DN tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế qua mạng; 98,41% số DN đăng ký tham gia nộp thuế điện tử; hoàn thuế theo phương thức điện tử chiếm tỷ trọng 93,14% tổng số hồ sơ được hoàn thuế. Các chính sách về tài chính đã cho thấy kết quả rõ rệt, thu NS 3 năm 2016-2018 tăng bình quân là 11,7%/năm, cao hơn tốc độ tăng GDP danh nghĩa khoảng 10%/năm, nên quy mô thu được cải thiện qua các năm. Quy mô chi NS đã được điều hành giảm dần, phù hợp yêu cầu giảm bội chi; bình quân giai đoạn 2016-2018 đạt 28,7% GDP...

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của chính sách tài chính an toàn, bền vững đó là kiểm soát bội chi và cơ cấu nợ công. Trong những năm qua, bội chi và nợ công đã được ngành Tài chính quản lý, kiểm soát chặt chẽ, tiếp cận thông lệ quốc tế; thực hiện nghiêm nguyên tắc không vay nợ công cho chi thường xuyên, chỉ chi cho đầu tư phát triển... Kết quả là bội chi NSNN đã giảm đáng kể so giai đoạn 2011-2015, bình quân năm 2016-2018 ở mức 3,7-3,8% GDP (giai đoạn 2011-2015 là 5,4% GDP); tốc độ tăng nợ công giảm xuống còn dưới ½ tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2011-2015 (khoảng 8,2%/năm so 18,1% giai đoạn 2011-2015), thấp hơn tốc độ tăng GDP danh nghĩa, theo đó quy mô nợ công giảm từ mức 63,7% GDP cuối năm 2016 xuống còn 58,4% GDP vào cuối năm 2018.

Nhiều giải pháp cơ cấu lại nợ công cũng đã được ngành Tài chính thực hiện có hiệu quả, kiểm soát tốt hơn các rủi ro về lãi suất, tỷ giá, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hệ số tín nhiệm quốc gia, có tác động tích cực tới chi phí huy động vốn nước ngoài của Chính phủ và DN Việt Nam.

Tinh gọn bộ máy, tăng hiệu lực, hiệu quả

Trong quá trình cơ cấu lại NS, nợ công, triển khai NQ số 18 - NQ/T.Ư và NQ số 19 - NQ/T.Ư của Hội nghị T.Ư 6 Khóa XII về tinh gọn bộ máy hiệu quả, hiệu lực và đổi mới tổ chức các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL), ngành tài chính đã kịp thời tham mưu các cấp thẩm quyền các giải pháp vừa tạo nền tảng pháp lý, vừa tạo động cơ, động lực thực hiện đối với các ngành, các cấp, các đơn vị, trong đó có việc hoàn thiện thể chế, gắn với Luật NSNN năm 2015, Luật Phí và lệ phí và các Nghị định quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL, tạo môi trường thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao số lượng và chất lượng dịch vụ sự nghiệp công. Thực hiện cắt giảm chi thường xuyên hỗ trợ các ĐVSNCL khối T.Ư gắn với lộ trình tăng giá phí theo quy định, tăng tự chủ, kết quả từ năm 2016 đến nay đã cắt giảm được khoảng 3.500 tỷ đồng chi thường xuyên NS T.Ư cho các ĐVSNCL gắn với lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế, học phí; yêu cầu các bộ, cơ quan T.Ư, địa phương tự cân đối nguồn làm lương năm 2016-2018 và từ năm 2017 không bố trí dự toán kinh phí riêng cho đối tượng hợp đồng 68 mà đưa vào định mức chi thường xuyên lĩnh vực quản lý hành chính;... Đồng thời, bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách, thúc đẩy các ĐVSNCL chuyển thành công ty CP; đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển và từng bước phát triển thị trường dịch vụ sự nghiệp công (DVSNC).

Riêng năm 2019, ngoài việc giảm chi thường xuyên NSNN theo lộ trình điều chỉnh giá DVSNC, đã yêu cầu các ngành, các cấp dành ra hơn 10.000 tỷ đồng gắn với triển khai các mục tiêu NQ số 18- NQ/TƯ và NQ số 19 - NQ/T.Ư để hỗ trợ các đối tượng chính sách, tạo nguồn cải cách tiền lương, bổ sung đầu tư, mua sắm trang thiết bị trong từng ngành, lĩnh vực, góp phần cơ cấu lại chi thường xuyên xuống dưới 62% tổng chi NSNN.

Đối với bản thân ngành tài chính, hệ thống tổ chức bộ máy, nhất là các đơn vị ngành dọc như Thuế, KBNN, Hải quan, Dự trữ Nhà nước, đã được quy hoạch, sắp xếp, tinh gọn đầu mối, tăng hiệu quả. Cùng với việc tinh gọn bộ máy, cải cách và hiện đại hóa ngành, công tác quản lý biên chế và tinh gọn đội ngũ công chức của Bộ Tài chính cũng được rà soát và tổ chức thực hiện đồng bộ.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng, đáng khích lệ tuy nhiên, mục tiêu về cơ cấu lại thu NS còn hạn chế, cơ cấu thu NST.Ư và địa phương vẫn còn những vướng mắc cần tiếp tục giải quyết hướng tới một hệ thống tài chính công bền vững, hiệu quả, hiệu lực và tinh gọn bộ máy hiệu lực, hiệu quả, đổi mới khu vực sự nghiệp công lập, phát triển thị trường DVSNC có quan hệ chặt chẽ nhau và đặt trong tổng thể cơ cấu lại, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế.

Các thành quả đạt được bước đầu là tích cực. Tuy nhiên, việc triển khai có hiệu quả các NQ, nhất là trong bối cảnh áp lực nhu cầu chi thường xuyên tăng lên gắn với thực hiện Đề án cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trong khi khả năng tăng thu có giới hạn khi hội nhập sâu rộng nền kinh tế khu vực và thế giới, đòi hỏi có sự chung tay của các bộ, ngành, địa phương và sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp thẩm quyền, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, xã hội.