Thích ứng với hạn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long

Bài & ảnh: NHÓM PHÓNG VIÊN ĐBSCL
Thứ Sáu, 15-05-2020, 16:58
Nhiều người đã đến tham quan và đánh giá cao sự tiện lợi, hiệu quả của mô hình tưới phun sử dụng máy bơm điều áp ở ấp Huyền Đức, xã Long Sơn, huyện Cầu Ngang (Trà Vinh).

Nghị quyết 120/NQ-CP (NQ 120) của Chính phủ ngày 17-11-2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH) sẽ góp phần quan trọng định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và toàn vùng ĐBSCL trong thời gian tới. Tuy nhiên, để bảo đảm thực hiện thành công mục tiêu này, ngoài việc phát huy tiềm năng sẵn có cần dựa trên hạ tầng cơ sở, trên nền tảng của những công trình thủy lợi đã và sẽ hình thành trong tương lai.

Kỳ 4: Phát triển nông nghiệp bền vững

(Tiếp theo & hết)

Định hướng lại sản xuất

Về định hướng sản xuất trong thời điểm bị tác động mạnh từ BĐKH, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải cho biết, Cà Mau có ba bề giáp biển nên sản xuất và canh tác của nhà nông khá “nhạy cảm” một khi gặp tác động bất lợi từ thiên nhiên. Vì thế, Cà Mau sẽ tiếp tục theo dõi, bám sát thực tế để đánh giá đúng tình hình diễn biến của thời tiết, của thiên tai hằng năm theo xu hướng nào nhiều: ngập úng, nước dâng nhiều hay gió bão nhiều; hạn hán, hay mưa dồn nhiều vào những thời điểm nào… Trên cơ sở đó, Cà Mau sẽ có căn cứ để định hướng, tính toán lại việc quy hoạch sản xuất từng vùng sao cho phù hợp theo hướng phát triển bền vững.

Cụ thể, trong quy hoạch sản xuất, Cà Mau sẽ phải tính toán lại việc trồng cây gì, nuôi con gì, mùa vụ trồng như thế nào là phù hợp… sao cho nó tránh bớt ảnh hưởng của thiên tai, giảm thiệt hại thấp nhất, nhưng hiệu quả tốt nhất, cả về chi phí sản xuất. Tại Cà Mau, sau chuyển đổi sản xuất vào năm 2000, địa phương đã thành hai vùng sản xuất: vùng mặn (chuyên nuôi trồng thủy sản) và vùng ngọt (chuyên nuôi, trồng cây con hệ ngọt). Tuy nhiên, trên thực tế thì Cà Mau có thêm vùng canh tác mới, gọi là chuyển dịch tự phát (vùng tự phát, vùng da beo).

Dẫn việc thực hiện dự án (DA) Hệ thống thủy lợi Cái Lớn, Cái Bé giai đoạn một, ông Nguyễn Tiến Hải cho rằng, dẫu vẫn còn những nhận định trái chiều mang tính chuyên sâu về tính khả thi của DA, song chính quyền và nhân dân các địa phương trong vùng - những người trực tiếp thụ hưởng lợi ích từ DA này lại hoàn toàn ủng hộ và DA cũng đang triển khai thi công ráo riết, dự kiến sẽ hoàn thành và sẽ đưa vào phục vụ sản xuất trong năm 2021. Nhắc lại để thấy, hiện nay việc quy hoạch sản xuất của một số địa phương trong vùng ĐBSCL đã có tính đến sự hiện hữu của các công trình thủy lợi, trong đó có DA cống Cái Lớn và Cái Bé.

Thực tế, nông dân vùng U Minh Thượng của tỉnh Kiên Giang một phần tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang cũng đang rất nóng lòng chờ đợi để được hưởng lợi trong quá trình sản xuất từ DA nghìn tỷ này. Bởi đây là một trong nhiều công trình phát triển vùng ĐBSCL thích ứng BĐKH và phù hợp NQ 120.

Tại các vùng đã đầu tư thủy lợi khép kín như Trần Văn Thời, thuộc Tiểu vùng Bắc Cà Mau, điều kiện sản xuất khá lý tưởng bởi có hệ thống ngăn mặn, giữ ngọt được đầu tư bài bản. Tuy nhiên, ở những năm hạn hán khốc liệt như hiện nay, sản xuất ít nhiều bị ảnh hưởng do kênh rạch cạn, không còn nguồn nước ngọt tự nhiên phục vụ sản xuất. Vì thế, bên cạnh việc chủ động lịch thời vụ, chuyển đổi giống cây trồng, thời gian tới, chính quyền địa phương cần cơ cấu lại mùa vụ một cách hợp lý hơn để bảo đảm nguồn nước ngọt tự nhiên ở kênh rạch, phục vụ sản xuất cho nông dân.

Ông Lê Phong, Chủ tịch UBND huyện Trần Văn Thời cho biết, về căn cơ, huyện đã có đề xuất cơ cấu lại vùng ngọt hóa của huyện và tỉnh cũng có chủ trương. Theo đó, Trần Văn Thời sẽ tính lại theo hướng chỉ sản xuất một vụ lúa chất lượng cao kết hợp một vụ cá, hoặc một vụ lúa kết hợp trồng một hoặc hai vụ màu để bảo đảm giữ nước ngọt ở kênh rạch, chống khô hạn, bảo đảm người dân đủ nước trong sản xuất.

Trong khi đó, ông Tô Quốc Nam, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Cà Mau đề xuất, về lâu dài vẫn là tìm nguồn nước trong mùa khô. Hiện nay, Bộ NN&PTNT đang đầu tư DA cống Cái Lớn, Cái Bé, nên Cà Mau mong muốn khi khép kín hai cống nêu trên, tiếp tục tính phương án dẫn nước ngọt về cho Cà Mau. Với phương án này sẽ bảo vệ được hơn 120.000 ha vùng ngọt của tỉnh, trong đó bảo vệ luôn cả rừng U Minh Hạ, bảo đảm sản xuất người dân vùng ngọt, cũng như việc hỗ trợ nước ngọt trong nuôi trồng thủy sản bền vững.

Theo Giám đốc Sở NN&PTNT Hậu Giang Trần Chí Hùng, do đặc thù các vùng sản xuất nông nghiệp của tỉnh rất dễ bị tổn thương bởi tình hình biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp vào mùa khô. Trước tình hình này, ngoài việc triển khai thực hiện các giải pháp công trình ứng phó, Hậu Giang cũng đẩy mạnh việc chuyển đổi mô hình sản xuất ở những nơi có điều kiện và đã có hàng trăm mô hình sản xuất thủy sản, cây trồng, rau màu mang lại hiệu quả thiết thực. Đặc biệt là linh hoạt hướng dẫn người dân tận dụng nguồn nước mặn, lợ để nuôi tôm, trồng cây ăn trái thích ứng với vùng bị nhiễm phèn, mặn.

Hay Kiên Giang, với hai thế mạnh kinh tế chủ lực là cây lúa và thủy sản, đã và đang định hình để tập trung sản xuất theo hướng an toàn, bền vững, hiệu quả theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ theo NQ 120. Ông Nguyễn Văn Tâm, Giám đốc Sở NN&PTNT Kiên Giang cho biết, tỉnh đã chủ động rà soát, xây dựng, triển khai các quy hoạch, kế hoạch phát triển hai lĩnh vực lúa và thủy sản phù hợp với điều kiện nguồn lực, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Theo đó, ưu tiên đầu tư các DA, công trình nâng cao khả năng chống chịu BĐKH, nước biển dâng như: DA rà soát, điều chỉnh quy hoạch nông nghiệp - nông thôn gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; đề án phát triển giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản; chương trình phát triển nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên và U Minh Thượng; DA rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tỉnh Kiên Giang; đề án phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, hiệu quả…

Thích ứng để phát triển bền vững

TS Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về ĐBSCL cho rằng, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cần đánh giá lại tính hiệu quả về kinh tế - xã hội của các công trình thủy lợi trái với quy luật tự nhiên để có hướng giải quyết thích ứng với đặc điểm sinh thái của vùng ĐBSCL. Bởi, thời gian qua, việc các địa phương phát triển các ô đê bao khép kín để trồng lúa vụ ba, các công trình thủy lợi thoát lũ biển Tây đã làm mất đi vai trò chứa và điều tiết nước của hai túi nước ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên dẫn đến khô hạn và xâm nhập mặn ngày càng gay gắt vào mùa khô.

“Chính vì vậy, ngoài chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo NQ 120, giải pháp căn cơ nhất cho tình trạng hạn - mặn trong khu vực là phải phát triển thích ứng tự nhiên” - TS Nguyễn Hữu Thiện chia sẻ.

PGS, TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Nghiên cứu BĐKH, Trường đại học Cần Thơ thì cho rằng, ĐBSCL nằm cuối nguồn sông Mê Kông do phù sa tích tụ, bồi đắp hình thành. Vì thế, nguồn nước đóng vai trò quan trọng trong đời sống, sản xuất của người dân nơi đây. Bao đời nay, cư dân vùng ĐBSCL dựa vào điều kiện tự nhiên hai mùa mưa nắng đã thích ứng, phát triển các mô hình trồng trọt, chăn nuôi theo mùa đã tạo lập cuộc sống hạnh phúc, hài hòa với thiên nhiên. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, ngoài chịu sự tác động của BĐKH, phần lớn do con người khai thác điều kiện tự nhiên quá mức nhất là phát triển lúa gạo hơn ba thập kỷ qua đã làm thay đổi đáng kể điều kiện tự nhiên vùng ĐBSCL và đầy những mất mát như: suy giảm chất lượng nguồn nước, nguồn nước ngọt khan hiếm và khó có thể phục hồi.

Theo GS Võ Tòng Xuân, trong định hướng phát triển sản xuất của vùng ĐBSCL cần có chính sách nông nghiệp hướng đến nông dân là trọng tâm. Nông dân ĐBSCL rất cần cù và thông minh trong việc tìm ra sinh kế dựa vào điều kiện tự nhiên nơi mình sinh sống. Nhiều cây trồng, vật nuôi hiệu quả kinh tế cao do nông dân tự tìm tòi sáng tạo nên đã giúp họ vượt qua những khó khăn của thời tiết, khí hậu cực đoan. Bên cạnh đó, nông dân rất cần được hỗ trợ vốn, khoa học kỹ thuật, đầu ra cho nông sản để xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản bền vững…

Ông Lê Anh Tuấn khẳng định, NQ 120 đã xác định rõ tầm quan trọng phát triển các mô hình trồng trọt, chăn nuôi của nông dân phải thích ứng điều kiện thiên nhiên. Điều này được các nhà khoa học trong và ngoài nước khuyến cáo nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong phát triển ĐBSCL thời gian qua. NQ này cũng nêu rõ, nước mặn cũng là một nguồn tài nguyên cần khai thác phục vụ quá trình phát triển. Do vậy, Chính phủ, các bộ, ngành cần có chiến lược phát triển ĐBSCL thích ứng với điều kiện tự nhiên, cần tôn trọng yếu tố thiên nhiên, văn hóa của cư dân vùng sông nước. Khi triển khai thực hiện các DA, công trình ngăn mặn trữ ngọt và các công trình giao thông thủy lợi trong vùng cần tôn trọng yếu tố tự nhiên “thuận thiên” để không phải hối tiếc như một số công trình thủy lợi đã triển khai trước đây đã làm thay đổi điều kiện tự nhiên mà nay khó có thể phục hồi.

.