Nhìn đa chiều về ứng phó với biến đổi khí hậu

Thứ Năm, 08/02/2018, 04:02:10
 Font Size:     |        Print
 

Năm 2017, xác lập một kỷ lục mới với 20 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Việt Nam. Rồi đây, những tình huống thiên tai sẽ ngày càng phức tạp, cực đoan và biến động khó lường hơn. Từ góc nhìn của những người trong cuộc, chuyên gia, để hiểu thêm về những trăn trở trong công tác dự báo, ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu (BÐKH).

Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia Lê Thanh Hải:

Những thử thách cân não

Dù cho công tác dự báo có đúng hướng, nhưng một khi mà những hệ lụy của bão như độ phơi nhiễm và tính dễ bị tổn thương, sức chống chọi của người dân còn chưa cao thì mức thiệt hại về người và tài sản vẫn vô cùng lớn. Người làm dự báo chưa thể yên lòng!

Cùng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, các hiện tượng khí tượng thủy văn (KTTV) nguy hiểm ở nước ta ngày càng biến động phức tạp hơn, không theo quy luật khí hậu thông thường. Có một thực tế, hiện nay số trạm quan trắc khí tượng, thủy văn ở Việt Nam còn rất thưa, mật độ phân bố bình quân là 25 km/trạm, những khu vực miền núi khoảng cách còn đến hơn 100 km, chính vì vậy việc cảnh báo, dự báo mưa chi tiết cho những vùng thưa trạm là rất khó khăn. Tỷ lệ trạm quan trắc thủ công của nước ta còn nhiều, thông tin thời gian thực hiện nay còn có độ trễ từ 1 giờ 30 phút tới 3 giờ, Việt Nam hiện chưa thể có được hệ thống siêu máy tính với công nghệ dự báo riêng cùng với nguồn nhân lực công nghệ cao tương xứng.

Trong bối cảnh ấy, thử thách đặt ra cho hệ thống dự báo KTTV năm 2018 và các năm tiếp theo vô cùng lớn. Nói một cách hình ảnh thì đội ngũ dự báo luôn phải đứng trước những "đòn" cân não. Chúng tôi đang xây dựng lộ trình từng bước, tăng dày mạng lưới quan trắc, tiến tới dự báo cụ thể chi tiết đến từng huyện, từng xã, kiến nghị Chính phủ đầu tư tăng số liệu bão trên biển với hệ thống các trạm phao, lắp đặt các trạm đo trên giàn khoan, cột phát sóng của các mạng viễn thông. Nâng cao năng lực khoa học - công nghệ trong dự báo bão bằng các mô hình hiện đại với hệ thống siêu máy tính để có nhiều hơn và tốt hơn các sản phẩm dự báo, mô hình dự báo chuyên dụng của Việt Nam khi bão vào Biển Ðông; tiếp tục bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ dự báo viên ở Trung ương, các Ðài KTTV khu vực và đặc biệt là ở các Ðài KTTV tỉnh.

Ðiều trăn trở lớn là làm sao đẩy mạnh truyền thông, tuyên truyền về bão và các thiên tai khác cho cộng đồng. Muốn vậy, cần chú trọng cải tiến nội dung các bản tin dự báo bão theo hướng chi tiết, rõ ràng hơn..., trong bối cảnh biến đổi khí hậu đã và đang có những diễn biến bất thường và khắc nghiệt. Thiên tai không còn giống với quy luật lịch sử và kinh nghiệm dân gian tích lũy bao đời. Do vậy, việc hiểu biết các thông tin dự báo KTTV sẽ giúp cho người dân và chính quyền chủ động trước mọi diễn biến khó lường của thời tiết khí hậu.

Quản lý cao cấp Chương trình giảm nhẹ rủi ro thiên tai, thích ứng BÐKH và cứu trợ nhân đạo, Tổ chức Oxfam tại Việt Nam Ths Vũ Minh Hải:


Hãy tham vấn người dân!

Chính phủ cần có các quy hoạch phát triển phù hợp với điều kiện tác động của BÐKH để đưa ra được các định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phát triển các khu vực kinh tế theo đặc điểm vùng, miền.

Hiện nay chúng ta đã có hệ thống văn bản pháp luật khá chặt chẽ bao gồm: Luật Phòng, chống thiên tai, Chiến lược Quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020, Chương trình Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng và nâng cao nhận thức của cộng đồng theo Quyết định số 1002/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, muốn nâng cao hiệu quả thích ứng với BÐKH, cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc triển khai ở các cấp, đặc biệt là việc hỗ trợ kỹ thuật và phân bổ ngân sách cho các hoạt động có sự tham gia của cộng đồng ở cấp cơ sở. Cán bộ chính quyền và các tổ chức hoạt động tại địa phương cần được nâng cao năng lực trong việc hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai, xác định nguyên nhân của tình trạng dễ bị tổn thương của các nhóm đối tượng trong cộng đồng cũng như đưa ra được các giải pháp phù hợp với điều kiện cụ thể của họ. Các kiến thức và giải pháp ứng phó với BÐKH cũng cần được giới thiệu và hướng dẫn cho địa phương.

Trước mắt, đối với người dân sống trong các khu vực có nguy cơ cao, cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ có hoạt động sản xuất, kinh doanh phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên cần đánh giá được những rủi ro liên quan, tìm hiểu những giải pháp kỹ thuật cũng như quản lý tổ chức công việc tối ưu để áp dụng trong điều kiện BÐKH. Thí dụ như áp dụng các giải pháp tiết kiệm nước tưới trong vùng khô hạn, cải thiện cây con giống phù hợp với điều kiện nhiễm mặn, điều chỉnh mùa vụ cho các vùng bị thay đổi về mùa mưa, nắng; sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, hạn chế các hóa chất, phân bón gây ô nhiễm môi trường, góp phần giảm phát thải khí nhà kính.

Về lâu dài, người dân trong các khu vực bị ảnh hưởng cần được tham vấn ý kiến làm cơ sở cho việc lập quy hoạch, kế hoạch của chính quyền địa phương các cấp. Nhu cầu của các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như người nghèo, phụ nữ nghèo, người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật và các nhóm dân tộc thiểu số cần được quan tâm đặc biệt để những điều chỉnh thích ứng BÐKH đem lại lợi ích và đáp ứng được các nhu cầu riêng biệt của họ.

Chuyên gia độc lập về sinh thái đồng bằng sông Cửu Long Ths Nguyễn Hữu Thiện:

Nhân rộng mô hình "thuận thiên"

Thích ứng với BÐKH là việc đưa ra những chọn lựa về loại hình mưu sinh, hình thức canh tác, hành vi sống của chúng ta để giảm tác động từ những thay đổi của điều kiện khí hậu. Do đó, cần sự liên kết vùng, điều phối giữa các địa phương và các ngành.

Hành động thích ứng với BÐKH cần ở tất cả các cấp, các ngành, từ vĩ mô đến vi mô, từ Chính phủ, chính quyền địa phương, đến người dân. Ðối với Nhà nước, đó là việc định hướng chiến lược, chính sách, cung cấp thông tin dự báo, cảnh báo, hỗ trợ nguồn lực, và tổ chức cho người dân thích ứng.

Ở góc độ của người dân, cần chủ động điều chỉnh hoạt động đời sống, sản xuất để giảm tổn thương với những biểu hiện của BÐKH. Có nhiều điều người dân có thể tự làm được để bảo vệ chính mình. Thí dụ như ở đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh những thông tin dự báo từ các cơ quan, người dân có thể quan sát mực nước lũ vào tháng 10 dương lịch để biết được sau Tết có hạn mặn hay không để điều chỉnh loại hình canh tác, thời gian xuống giống, hoặc tránh xuống giống, tích cực trữ nước cho sinh hoạt. Hoa màu trồng ven biển, hay bị gió chướng bắn nước muối lên vào ban đêm thì có thể trồng hàng cây ven biển, hoặc dùng vật liệu che chắn.

Riêng đối với đồng bằng sông Cửu Long, Chính phủ vừa ra Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long ứng phó với BÐKH với những định hướng chiến lược phù hợp, trong đó nêu rõ mấy nét lớn, như thích ứng thuận thiên là chính, dựa trên nền tảng đất, nước, hệ sinh thái, tôn trọng quy luật tự nhiên, phù hợp với điều kiện thực tế, tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên. Chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững với phương châm chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn. Mọi hoạt động đầu tư phải được điều phối thống nhất, bảo đảm tính liên vùng, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình hợp lý.

Nếu tinh thần Nghị quyết này được thực hiện tốt, đồng bằng sông Cửu Long sẽ có sức chống chịu tốt hơn với BÐKH và các thách thức khác. Nghị quyết như thế cần được nhân rộng cho các vùng khác trong cả nước.

Hoài Linh và Hoàng Nghĩa Nam
(Thực hiện)