Phát triển công nghiệp văn hóa, tạo dựng vị thế đất nước

Thứ Tư, 07/02/2018, 02:39:45
 Font Size:     |        Print
 

Anh Hiệu, chị Hiệu trong hội đánh bài chòi. Ảnh: Trần Hoa Khá

"Công nghiệp văn hóa" là ngành công nghiệp kết hợp sáng tạo, sản xuất, phân phối và dịch vụ tiêu dùng các sản phẩm có yếu tố văn hóa và được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể, đó là hoạt động sản xuất, dịch vụ gắn với sáng tạo, vì vậy còn được coi là ngành "Công nghiệp sáng tạo"- Creative Industries.

Công nghiệp văn hóa ở Việt Nam

Nằm giữa kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa; giữa lĩnh vực kinh tế công nghiệp, kinh tế dịch vụ và kinh tế liên kết số; là điểm giao của nghệ thuật, kinh doanh và khoa học - công nghệ; giữa bản sắc văn hóa quốc gia và hội nhập quốc tế,"Công nghiệp văn hóa" (CNVH) là một thuật ngữ mới trong nền kinh tế và văn hóa Việt Nam được lưu ý khoảng năm, ba năm trở lại đây và được quan tâm nhiều hơn từ năm 2016, khi Quyết định số 1755/QÐ-TTg, ngày 8-9-2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành Công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Tầm quan trọng của việc phát triển các ngành CNVH là nhằm khai thác tiềm năng kinh tế của văn hóa, phát huy bản sắc dân tộc, thúc đẩy sự sáng tạo, đổi mới, đồng thời củng cố sức mạnh mềm của quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa, số hóa và gia tăng cạnh tranh..., tận dụng ưu thế văn hóa trong nỗ lực xây dựng kinh tế, tạo dựng vị thế đất nước.

Ở các quốc gia phát triển, tốc độ tăng trưởng của các ngành CNVH hằng năm cao hơn hai lần so với ngành công nghiệp dịch vụ và gấp bốn lần so với lĩnh vực sản xuất; được định vị như một lĩnh vực kinh tế chủ chốt, tạo ra ưu thế cạnh tranh tổng thể, thúc đẩy sự đổi mới, cũng như tạo sự cân bằng, đa dạng hơn cho nền kinh tế. Các tổ chức, doanh nghiệp văn hóa đã và đang đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thông qua tăng cường sự tích hợp giữa văn hóa - nghệ thuật với kinh doanh và công nghệ. Thí dụ như công nghiệp điện ảnh, âm nhạc và truyện tranh của Hàn Quốc, Nhật Bản là sự thành công của việc lấy CNVH làm chủ đạo. Còn với nước Mỹ, thì CNVH đã trở thành thế mạnh từ nhiều chục năm nay bởi sự đầu tư chiến lược như là lĩnh vực kinh tế trọng yếu, giúp khẳng định sự hiện diện của văn hóa Mỹ trên toàn cầu.

Nhưng ở Việt Nam, nhiều năm qua, phạm trù CNVH bị lơ là do nhận thức của xã hội nói chung và giới quản lý văn hóa-nghệ thuật nói riêng, chưa thấy tầm quan trọng của CNVH đối với nền kinh tế trong bối cảnh thị trường, hội nhập quốc tế và với chính sự phát triển của văn hóa-nghệ thuật. Thậm chí, có lúc còn đồng nhất CNVH là thương mại hóa văn hóa - nghệ thuật.

Quyết định số 1755/QÐ-TTg, ngày 8-9-2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đã giải tỏa nhiều vướng mắc về CNVH, mang lại một vị thế mới trong nền kinh tế quốc dân. Theo đó, phát triển các ngành CNVH là sự nghiệp của toàn dân, là một trong những ngành kinh tế sản xuất, dịch vụ quan trọng hàng đầu và có vai trò nổi bật với các mục tiêu cụ thể: phấn đấu doanh thu của các ngành CNVH đóng góp khoảng 3% GDP vào năm 2020; 7% vào năm 2030 và tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội.

CNVH kết hợp ba yếu tố: sáng tạo, cơ sở hạ tầng và công nghệ sản xuất hiện đại; có thể sản sinh ra các sản phẩm văn hóa, đem lại lợi ích kinh tế. Tại Việt Nam, CNVH gồm 12 nhóm ngành: Quảng cáo, kiến trúc, phần mềm và trò chơi giải trí, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, điện ảnh, xuất bản, thời trang, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật - nhiếp ảnh - triển lãm, truyền hình và phát thanh, du lịch văn hóa. Các ngành CNVH có thể tồn tại độc lập, song thường phát triển mang tính liên ngành, tích hợp tạo thành các nhóm ngành; có thể tập trung trong một khu vực, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp như: Cụm CNVH, Công viên CNVH, Trung tâm CNVH…

Du lịch văn hóa là mũi "chủ công"

Nhiều ý kiến cho rằng, trong thời gian tới du lịch văn hóa là một trong những mũi chủ công của CNVH Việt Nam. Tại sao không? Khi Việt Nam là quốc gia giàu truyền thống văn hóa, là nơi tập trung nhiều Di sản thế giới và là quốc gia có nhiều di sản văn hóa. Nguồn Di sản tại Việt Nam là một hệ thống tài nguyên to lớn cho phát triển các ngành CNVH, trong đó có thể xem hệ thống Di sản thế giới là tài nguyên cốt lõi hay tài nguyên chiến lược, cao giá nhất (theo "định giá" của UNESCO, mỗi di sản có giá trị "gốc" từ 500 triệu USD trở lên), có nhiều lợi thế, tiềm năng trong việc phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế. Ðây chính là nguồn cảm hứng, là tư liệu, bối cảnh cho việc sáng tạo các ý tưởng tạo lập các sản phẩm văn hóa. Ngược lại, các sản phẩm văn hóa góp phần truyền bá các giá trị của di sản, kết nối với các giá trị văn hóa chung của cộng đồng, khu vực, quốc gia và quốc tế.

Ðến thời điểm 2017, Việt Nam là quốc gia có số lượng Di sản thế giới nhiều nhất trong các nước ASEAN, gồm: tám Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (trong đó có một di sản kép); 12 Di sản văn hóa phi vật thể; hai Di sản tư liệu thế giới; chín Khu dự trữ sinh quyển thế giới; một Công viên địa chất toàn cầu. Hiện tại, Việt Nam đã thống kê được hơn 40.000 Di sản văn hóa; gần 10.000 lễ hội văn hóa trong năm của 54 dân tộc trong cả nước, thường song song với di tích, cùng những phong tục tập quán bản địa, kết hợp văn hóa ẩm thực Việt các vùng miền…, như một kho tàng văn hóa quý giá để ngành du lịch Việt Nam, vốn được ví như ngành "công nghiệp không khói" khai thác.

Du lịch, đặc biệt là du lịch di sản như "nồi cơm Thạch Sanh" nếu khéo khai thác, cũng như khắc phục những hạn chế khiếm khuyết của ngành du lịch Việt Nam, thì việc trở thành "chủ công" của CNVH là điều có thể thành hiện thực và là mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân trong tương lai.

Nếu thử nhìn tổng quát sự phát triển CNVH ở những nước tiên tiến, trong đó có vai trò của ngành mỹ thuật, ta thấy những bảo tàng nổi tiếng thế giới như Louvre, Orsay (Pháp); Metropolitan (Mỹ); Van Gogh Amsterdam (Hà Lan); Vatican (I-ta-li-a)… lượng khách tham quan mỗi bảo tàng hằng năm lên tới vài triệu lượt người, nguồn thu từ bán vé hàng trăm triệu ơ-rô/năm. Những công trình văn hóa như tượng đài Nữ thần tự do tại Niu Oóc (Mỹ), tháp Ép-phen ở Pa-ri (Pháp), tượng đài Mẹ Tổ quốc ở Vôn-ga-grat (Nga)… cũng thu hút hàng chục triệu khách tham quan mỗi năm, giúp ngành du lịch của những quốc gia này đóng góp đáng kể cho GDP.

Việt Nam có những thế mạnh từ bề dày lịch sử và văn hóa mang bản sắc độc đáo riêng của mình. Ðể chiến lược phát triển CNVH, trong đó có mỹ thuật đạt được mục tiêu với tầm nhìn năm 2030, ngay từ bây giờ, chúng ta cần có những bước đột phá, nhất là trong việc trang bị kiến thức thẩm mỹ cho học sinh từ bậc tiểu học, nuôi dưỡng tình yêu nghệ thuật cho các em ngay từ nhỏ, bởi đây sẽ là những công chúng đông đảo trong tương lai. Cần có sự phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng kiến trúc đi đôi với quảng bá về du lịch và văn hóa để thu hút du khách quốc tế. Phát huy khả năng sáng tạo về mỹ thuật và kiến trúc để có được những tác phẩm điêu khắc ngoài trời đẹp, công trình kiến trúc độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc pha nét hiện đại không "trộn lẫn", làm điểm nhấn tại các thành phố lớn. Cần lưu giữ những tác phẩm mỹ thuật có giá trị cao để Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có sức hút đặc biệt đối với công chúng trong và ngoài nước, mang lại nguồn thu lớn từ việc bán vé tham quan. Bên cạnh đó, cần phát huy sáng tạo trong lĩnh vực mỹ thuật công nghiệp để những sản phẩm tiêu dùng vừa mang nét truyền thống, vừa có tính hiện đại, đem lại giá trị cao về kinh tế.

Họa sĩ, nhà điêu khắc ÐINH GIA THẮNG

(Tác giả Tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng)

 

Ðiện ảnh Việt Nam phát triển vượt bậc trong thời gian qua. Doanh thu phòng vé những năm trước 2008 chỉ khoảng dưới 5 triệu USD/năm, đến năm 2017 đã vượt lên mức trên 140 triệu USD (trong đó phim Việt đạt mức khoảng 35 triệu USD). Với tốc độ tăng trưởng từ 20 đến 25% mỗi năm, công nghiệp điện ảnh tại Việt Nam sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên, bài toán khó đặt ra là điện ảnh Việt Nam sẽ có chỗ đứng như thế nào trong ngành công nghiệp này?

Công nghiệp điện ảnh tại Việt Nam hiện đối mặt với nhiều cạnh tranh gay gắt khi hệ thống rạp chiếu nước ngoài (chủ yếu là CGV và Lotte của Hàn Quốc) nắm giữ khoảng hơn 65% thị phần phát hành phim điện ảnh; các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm khoảng 35%, trong đó 2% là của Nhà nước và 33% là của tư nhân. Những bức xúc lâu nay của Hiệp hội Phát hành và phổ biến phim, Hội Ðiện ảnh Việt Nam và nhiều nhà sản xuất trong nước trước những biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh của các công ty nước ngoài là tình trạng đáng lo ngại cho sự phát triển của điện ảnh nước nhà. Trong bối cảnh này, cũng như nhiều nhà sản xuất Việt Nam, tôi thấy lòng tự tôn dân tộc cần được nâng cao hơn. Chúng tôi không sợ cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, song chỉ mong được cạnh tranh sòng phẳng, không bị chèn ép trên sân nhà… Và nếu có các chính sách kịp thời, phù hợp, những người làm phim sẽ nỗ lực bằng tất cả tài năng, tâm huyết và lòng quyết tâm gìn giữ văn hóa Việt để sản xuất những bộ phim chất lượng, có thể chạm được vào trái tim khán giả nước nhà.

Ðạo diễn NGUYỄN PHAN QUANG BÌNH - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty BHD

(Ðạo diễn các phim Vũ khúc con cò, Cánh đồng bất tận, Quyên...; Nhà sản xuất các phim Áo lụa Hà Ðông, Những nụ hôn rực rỡ…)

VIỆT VĂN