Cuộc thi thơ đặc biệt

Thứ Tư, 07/02/2018, 02:30:57
 Font Size:     |        Print
 

Minh họa: Lê Thiết Cương

Ông nội tôi sinh ra vào những năm đầu của thế kỷ trước. Là con nhà bần nông, ông không được đến trường ngày nào, chỉ cặm cụi cấy trồng. Ruộng đồng là trường học của ông, nơi ông học những bài học về quy luật tự nhiên và cách sinh tồn. Quanh năm chân lấm tay bùn, ấy vậy mà ông tôi lại yêu thơ đến lạ lùng.

Năm nào cũng vậy, cứ sáng mồng 1 Tết, ông tôi tổ chức một cuộc thi thơ cho mấy chị em tôi. Ông vừa ra đề thơ, vừa làm giám thị, giám khảo, vừa là người trao giải. Trước khi ra đề, bao giờ ông thay bộ cánh tươm tất nhất mà ông có, thắp một tuần hương lên bàn thờ tổ tiên với sự kính cẩn nghiêm trang rồi lầm rầm khấn. Tôi không rõ trong lời khấn của mình, ông có cầu xin các bậc tiền nhân giúp ông nghĩ ra đề thơ hay hay không, chỉ biết nghi thức đó làm tăng thêm cảm giác hồi hộp trong lòng mấy đứa trẻ ngây thơ chúng tôi.

Trong khi ông khấn tổ tiên, chúng tôi cũng thầm cầu mong đề thơ ông sắp ra không quá khó. Ðược cái, ông tôi chỉ yêu chữ, yêu thơ chứ không hay chữ, giỏi thơ nên chủ đề các cuộc thi thơ ông nghĩ ra thường không phức tạp. Năm nào cũng như năm nào, đề thi thơ của ông na ná như nhau, đại loại: viết một bài thơ về cây táo to nhất trong vườn nhà, về cành đào Tết, về nồi bánh chưng, về buổi sáng mồng 1 Tết... Ba chị em tôi diện quần áo Tết, chải tóc gọn ghẽ, ngồi đung đưa chân trên những chiếc ghế cao quanh chiếc bàn uống nước của cả nhà, tì tay vào mép bàn, vắt óc nghĩ rồi viết ra những hàng chữ ngây ngô mà giờ đây, dù nhớ lại được, tôi cũng khó có thể gọi đó là thơ. Có năm, không biết có phải vì quên hay không mà ông ra lại đề của Tết năm trước khiến ba chị em tôi cùng tiếc hùi hụi vì không nhớ nổi mình đã từng viết những câu thơ gì để… chép lại cho nhanh.

Nhưng không dễ gì mà đánh lừa ông tôi. Có năm cô của tôi - một nhà thơ thứ thiệt - đưa con gái về quê ăn Tết. Em họ tôi rất thích những con cào cào rang muối trong những ngày mùa gặt, những chùm hoa khế tim tím bên bờ ao ngày hè, những đàn én lượn qua khoảng trời phía trên mảnh sân nhà chúng tôi vào chiều xuân, nhưng nó không hề thích cuộc thi thơ sáng mồng 1 Tết. Ghét của nào trời trao của nấy, em họ tôi "được" - hay nói đúng hơn là "bị" ông tôi bắt tham gia cuộc thi thơ cùng chúng tôi. Bị ép uổng phải ngồi "rặn" thơ, nó tức tối, khó chịu đến mức bắt đầu mếu máo. Sợ nó khóc vào sáng mồng 1 Tết sẽ làm cả nhà xui xẻo quanh năm nên cô tôi nghĩ thật nhanh mấy câu thơ và giúi cho nó. Ông phát hiện trò "gian lận" và "lì xì" hai mẹ con cô một trận mắng. Từ đó trở đi, mỗi lần nghe ai nhắc đến cuộc thi thơ của ông, em họ tôi lại nguýt một cái rõ dài.

Tôi không nhớ hồi ấy bằng cách gì mà mình có thể hoàn thành phần thi trong cuộc thi thơ vào sáng mồng 1 Tết, nhưng tôi vẫn còn nhớ phần thưởng ngọt ngào cho cuộc thi đó. Ngoài chiếc bánh chưng con xinh xinh ông gói riêng cho dịp này, chúng tôi còn được thưởng những đồng tiền xu mới coóng, lấp lánh. Mệnh giá của những đồng xu ấy bao nhiêu chúng tôi không quan tâm. Nhưng nghe bà tôi ngồi bên lề chậm rãi nói vọng vào, "một nén tiền công không bằng một đồng tiền thưởng!". Chúng tôi thấy phần thưởng của ông tôi to thật là to.

Nhà có ba chị em, thì cuộc thi của ông có ba giải. Cháu nào cũng được thưởng, và quan trọng hơn, "tác phẩm" của ai cũng được ông đọc bằng giọng đặc biệt chỉ dành riêng cho thơ. Vào ngày thường có thể những câu viết ngây ngô của chúng tôi sẽ gợi những trận cười nghiêng ngả cho chính chúng tôi và những ai ở trong tầm nghe, nhưng trong không khí của buổi sáng mồng 1 Tết, với cảm giác về sự quan trọng mà ông tôi tạo ra cho cuộc thi thơ, chúng tôi thường không cười, mà lắng nghe chăm chú từng câu. Với sự dẫn dắt của ông, thơ đến với chúng tôi, những đứa trẻ ngây thơ, dường như là thí dụ cụ thể cho khái niệm về sự vô giá.

Ông tôi qua đời, chúng tôi lớn lên, cuộc thi thơ sáng mồng 1 Tết lùi vào dĩ vãng. Dù không ai trong nhà có thể kế tục ông duy trì cuộc thi thơ Tết ấy như một truyền thống của gia đình, nhưng những gì ông tôi gieo vào và khơi lên trong tôi vẫn còn đọng đến hôm nay. Không phải đợi cho tới khi bắt đầu có những bài thơ đăng báo, mà ngay từ ngày ấy qua cái cách ông tôi đối xử với thơ, tôi đã biết thơ thuộc những gì tinh túy nhất mà tâm hồn một con người có thể tạo ra dành tặng thế giới này. Chẳng ai sống được bằng thơ nhưng thế gian có biết bao người đã "vịn câu thơ mà đứng dậy". Biết đâu đấy, trong cuộc đời cần lao của mình, nhờ thơ mà tinh thần ông tôi được xoa dịu và đắp bù giữa bao vất vả, gian nan. Biết đâu đấy, vì thơ mà những con chữ ông tôi học được qua lớp bình dân học vụ khi mái đầu đã bắt đầu có sợi tóc bạc trở nên hữu ích theo cách rất đặc biệt, bởi vì chúng được dùng để đọc thơ nhiều hơn cho bất cứ gì khác.

Mỗi khi Tết đến xuân về, nhớ ông, tôi lại hồi tưởng cuộc thi thơ do ông khởi xướng. Cũng như nồi bánh chưng ngày Tết, như câu chúc đầy thành ý, như món quà mừng tuổi đầu năm, cuộc thi thơ ấy như một ánh lửa thắp lên khát vọng lặng thầm đầu tiên trong tôi về đời sống tinh thần không nhuốm bụi, về tình yêu dành cho vẻ đẹp tâm hồn và ý thức nâng niu, trân trọng sự tài hoa.

Tản văn của Nguyễn Bích Lan

Chia sẻ