Bản lĩnh Hồ Chí Minh

Thứ Ba, 06/02/2018, 08:31:26
 Font Size:     |        Print
 

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc của Người ở Phủ Chủ tịch năm 1946. Ảnh tư liệu

Trong không khí cuộc vận động "Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", xuân qua, tôi có viết cho Báo Nhân Dân số Tết bài: "Phong cách Hồ Chí Minh – chuyện thật như huyền thoại". Xuân này lại được gợi ý viết tiếp bài "Bản lĩnh Hồ Chí Minh".

Loay hoay mãi. Bỗng đọc Nhật ký trong tù, thấy bài thơ của Bác "HỌC ÐÁNH CỜ"

Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ

Kiên quyết, không ngừng thế tiến công;

Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,

Gặp thời, một tốt cũng thành công.

Hẳn ai đọc lời thơ này, dù là người chơi cờ thường hay kỳ thủ chuyên nghiệp cũng đều tâm đắc lắm. Nhưng nào phải vì "tù túng đem cờ học đánh chơi", như tác giả nói trong câu thơ mở đầu. Bác đang nói về thế sự đó. Trong tù, Bác vẫn nghĩ về cuộc chiến đấu của nhân dân ta nhằm giải phóng dân tộc. Cuộc chiến ấy đòi hỏi người lãnh đạo không những có tầm nhìn xa trông rộng, có tư duy chiến lược đúng đắn, mà còn phải có những quyết sách phù hợp. Biết không ngừng thế tiến công nhưng cũng phải biết cách phòng thủ, tự vệ. Biết ứng phó trước những tình thế hiểm nghèo và cũng biết ra đòn quyết định khi thời cơ đến. Phải chăng, đó là bản lĩnh?

Bản lĩnh Hồ Chí Minh thể hiện xuyên suốt cuộc đời làm cách mạng của Người, nhất là vào những thời khắc lịch sử. Xin nêu lên sau đây vài minh chứng, trong Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến cứu nước, cũng như trong xây dựng Ðảng và việc Người ra đi tìm đường cứu nước.

Về Cách mạng Tháng Tám

Ngay từ đầu, từ Hội nghị lần thứ tám của Trung ương (năm 1941), Bác đã nói: "Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được". Bác còn nói: "Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng quyết giành cho được độc lập". Giữa tháng tám năm 1945, khi lệnh Tổng khởi nghĩa đã phát ra, Người kêu gọi: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Ngày 2-9-1945, Người đọc Tuyên ngôn Ðộc lập: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy".

Về cuộc kháng chiến thứ nhất

Ngày 19-12-1946, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Bác Hồ kêu gọi:

"Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".

Theo lời Bác, cả nước đã đứng lên, tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, đầy khí thế.

Trước kẻ thù mạnh, có người cho rằng cuộc kháng chiến của ta là "châu chấu đấu voi". Tại Ðại hội II của Ðảng (tháng 2-1951), Bác nói:

Nay tuy châu chấu đấu voi

Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra

Mà thật vậy. Tháng 5-1954, bằng một "Ðiện Biên chấn động địa cầu", ta đã giáng cho quân đội Pháp một đòn chí mạng, dẫn đến thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chín năm.

Về cuộc kháng chiến thứ hai

Sau khi giặc Mỹ điên cuồng leo thang chiến tranh đánh phá miền bắc, ngày 17-7-1966, Bác Hồ ra lời kêu gọi: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Bác nghiêm khắc lên án: "Giôn-xơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, một triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng". "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Ðến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".

Mở đầu năm 1968, Bác thung dung gửi lời thơ chúc mừng năm mới đến đồng bào và chiến sĩ cả nước:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà,

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!

Như một phép màu kỳ diệu, lời thơ chúc mừng năm mới ấy đã được quân và dân ta hiện thực hóa bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, giáng một đòn sấm sét vào đội quân viễn chinh Mỹ. Với thắng lợi vang dội này, ta đã đánh sập ý chí xâm lược của kẻ thù, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán với ta.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết. Mỹ buộc phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền nam. Hơn hai năm sau, bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, quân và dân ta đã đánh đổ toàn bộ chính quyền Sài Gòn và chế độ thực dân mới, thực hiện thống nhất nước nhà, thu giang sơn về một mối.

Về xây dựng Ðảng

Năm 1930, chính Nguyễn Ái Quốc, bằng uy tín tuyệt đối của mình, đã chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở ba kỳ thành một Ðảng chung cho cả nước - Ðảng Cộng sản Việt Nam. Ðảng giương cao ngọn cờ cách mạng dân tộc dân chủ, tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Năm 1951, tại Ðại hội II của Ðảng, Bác nói: "Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc". Năm 1960, kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Ðảng, Bác lại nói: "Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: "Ðảng ta thật là vĩ đại!". Năm 1969, trong Di chúc để lại, Bác dành sự quan tâm đặc biệt để Trước hết nói về Ðảng. Bác căn dặn: "Ðảng ta là một Ðảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".

Về việc ra đi tìm đường cứu nước

Năm 1911, chàng trai Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Nơi tìm đến đầu tiên không phải đâu khác mà chính là nước Pháp, cái nôi của cách mạng tư sản dân quyền, cũng là nơi sản sinh chế độ thực dân đang áp bức, bóc lột nhân dân ta. Ðến đó không phải để học văn minh mà là để hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân và tìm hiểu bằng cách nào để thoát khỏi gông xiềng của nó.

Trước Nguyễn Tất Thành, cũng để tìm đường cứu nước, đã có hai bậc chí sĩ tiền bối Việt Nam xuất dương. Phan Chu Trinh đi Pháp. Phan Bội Châu đi Nhật. Cuối cùng, cả hai đều day dứt một nỗi niềm.

Cụ Phan Chu Trinh, trong một bức thư đề ngày 18-2-1922 gửi từ Mác-xây cho Nguyễn Ái Quốc ở Pa-ri, đã chân thành bộc bạch: "Tôi tự ví thân tôi như con ngựa già hết nước kiệu, phi nước tế. Thân tôi tựa như chim lồng cá chậu. Vả lại, cây già thì gió dễ lay, người già thì trí dễ lẫn. Cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả, may ra có tỉnh giấc hồn mê". Rằng: "Nguyễn Ái Quốc như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông… Không bao lâu nữa, cái chủ nghĩa Anh tôn thờ (ý nói chủ nghĩa Mác - Lê-nin) sẽ thâm căn cố đế (sâu rễ bền gốc) trong đám dân tình, chí sĩ nước ta".

Cụ Phan Bội Châu, tại Trung Quốc, trong thư đề ngày 14-2-1925 gửi cho Nguyễn Ái Quốc, đã viết: "Nhớ lại hai mươi năm trước đây, khi đến nhà cháu uống rượu, gò án ngâm thơ, anh em cháu đều chưa thành niên, lúc đó Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này. Bây giờ đem so kẻ già này với cháu thì bác thấy rất xấu hổ. Nhận được liên tiếp hai lá thư của cháu, bác cảm thấy vừa buồn vừa mừng. Buồn là buồn cho bản thân bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh sáng ban mai… Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai để nhờ vả, ủy thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có được niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao bác không cảm thấy vui mừng được".

Quả là những lời bàn giao thế hệ tuyệt vời!

Ngày nay, đến lượt lớp con cháu Bác Hồ kế thừa sự nghiệp của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh, bản lĩnh, đạo đức và phong cách của Bác vừa là ánh sáng soi đường vừa là động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện của chúng ta tiến lên những thắng lợi mới ngày càng to lớn hơn, làm rạng rỡ thêm bộ mặt của Ðất nước và Con người Việt Nam.

Xuân Mậu Tuất 2018

HÀ ÐĂNG