Phim làm lại và sự chủ động của một nền điện ảnh

Thứ Ba, 06/02/2018, 05:05:31
 Font Size:     |        Print
 

Một cảnh trong phim Sống chung với mẹ chồng.

Những năm gần đây, xuất hiện hàng loạt phim làm lại, bao gồm cả phim điện ảnh và truyền hình, đã ra đời như: Bạn gái tôi là sếp, Sắc đẹp ngàn cân, Ngày mai Mai cưới, Yêu đi đừng sợ… Ðặc biệt, năm 2017, Sống chung với mẹ chồng và Người phán xử đã gây được hiệu ứng mạnh, thu hút nhiều khán giả theo dõi màn ảnh nhỏ.

Cụm từ "phim làm lại" (remake) không còn xa lạ với khán giả nước nhà. Trên cơ sở bộ phim gốc, thường là những phim nổi tiếng, ăn khách, người làm phim giữ lại cốt truyện, nhân vật; từ đó thêm bớt, chỉnh sửa cho phù hợp với ý đồ, thời gian, địa điểm, xứ sở hoặc dân tộc để sản xuất ra những bộ phim mới.

Nhìn lại quá khứ, đạo diễn người Mỹ Ô-li-vơ Xtôn (Oliver Stone) được coi là người đi tiên phong của dòng phim làm lại, khi năm 1983, ông đã "làm lại" bộ phim Scarface (Gã mặt sẹo) có từ năm 1932, chỉ thay đổi chút ít về tiểu sử nhân vật, về địa điểm, xuất xứ, tái hiện sinh động không khí của những năm 1980, đem đến cái nhìn rõ nét về cuộc chiến chống buôn lậu thuốc phiện. Bộ phim này có ảnh hưởng tốt tới nhiều thế hệ làm phim. Năm 2006, phim Departed (Ðiệp vụ Bô-xtơn) được đánh giá là một tuyệt tác của đạo diễn Mác-tin Xco-xít, về cảnh sát chìm ở Bô-xtơn, mang phong cách độc đáo trong tư duy nghệ thuật của ông, nhưng thực chất là làm lại phim Vô gian đạo (Infernal Affaire) của Nhật Bản...

Như vậy việc điện ảnh Việt Nam làm lại phim không phải chuyện lạ. Chỉ có điều ở ta người làm phim chỉ chọn những phim ăn khách của nước ngoài, chủ yếu là các nước trong khu vực và làm một cách khá rầm rộ. Sự rầm rộ này khởi đầu từ cuối 2016, đầu 2017 khi phim Em là bà nội của anh, làm lại từ phim Hàn Quốc Miss Gramy, đã rất ăn khách, làm "cháy" phòng vé với doanh thu trên một trăm tỷ đồng. Thắng lợi này đã thổi bùng ngọn lửa hứng khởi với việc làm lại phim Hàn Quốc, dù trước đó, năm 2015 đã có Ngày mai Mai cưới làm lại phim Get married (2007) của In-đô-nê-xi-a; Yêu làm lại phim The love of Siam (2007) và Bạn gái tôi là sếp làm lại phim ATM Er Rak Erocor (2012), đều của Thái-lan. Một loạt phim Hàn Quốc được làm lại như Sắc đẹp ngàn cân (từ phim 200 pounds beauty); Yêu đi đừng sợ (Spelibourd), Cô nàng ngổ ngáo (My sassy Girl), Mối tình đầu của tôi (She was pretty), Tháng năm rực rỡ (Sunny)…

Sở dĩ các nhà làm phim Việt Nam chú ý tới phim ăn khách của Hàn Quốc vì hiện nay văn hóa và điện ảnh Hàn Quốc có ảnh hưởng khá đậm tới lớp công chúng trẻ - những người tích cực mua vé xem phim. Hơn nữa, hiện đang có sự giao lưu tương đối chặt chẽ giữa điện ảnh Việt Nam và Hàn Quốc, trong đó điều quan trọng không thể không tính đến là các tập đoàn phát hành phim lớn của Hàn Quốc ngày càng chiếm ưu thế ở nước ta.

Một lý do nữa khiến người ta đổ xô vào phim làm lại là kinh phí mua kịch bản gốc không quá đắt, việc thêm bớt, sửa chữa cũng nhanh trong bối cảnh điện ảnh Việt Nam luôn "đói" kịch bản. Ðạo diễn Charlie Nguyễn từng lý giải: "Bây giờ tìm được một kịch bản phim Việt "ra hồn" để thực hiện là cực kỳ gian nan, trong khi nhà sản xuất nào cũng muốn nhanh chóng kiếm lợi nhuận triệu đô ở phòng vé, thế nên mới có tình trạng đổ xô đi săn lùng kịch bản phim ngoại".

Thiếu kịch bản có nhiều lý do như: nhà sản xuất trả nhuận bút quá bèo bọt; tiền chi cho khâu kịch bản quá ít nên khó có thể sử dụng một nhóm người tập trung trí tuệ, cân nhắc, phản biện cho nhau để viết được một kịch bản tốt. Chưa nói đến việc sử dụng những người giỏi nghề làm theo từng công đoạn như mua ý tưởng, thuê người viết kịch bản văn học, người viết kịch bản phân cảnh và nếu cần thì mời cả người viết thoại cho phim.

Giải pháp trước mắt là đặt hàng cho các nhà văn, nhà biên kịch có tay nghề những đề tài, chủ đề, thể loại mà nhà sản xuất và khán giả quan tâm. Tuy nhiên về lâu dài, các cơ quan Nhà nước nên có kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng, gửi người đi học ở các nước có nền điện ảnh phát triển theo hình thức công hoặc công tư phối hợp (trong đó có cả việc tìm nhà tài trợ) bởi trong nước, các trường đào tạo sân khấu và điện ảnh tuy có khoa biên kịch nhưng điều kiện giảng dạy và học tập còn nhiều hạn chế.

Trong tình trạng đó, làm lại phim nước ngoài được coi là giải pháp tình thế mang lại những lợi ích nhất định. Nhiều nhà sản xuất sẽ không bị đứt đoạn làm phim quá lâu, từ công việc này có thể thu được lợi nhuận để duy trì hoạt động sản xuất phim phục vụ khán giả, cho dù đó chưa phải là sản phẩm hoàn toàn Việt Nam. Những phim làm lại thành công (dù chỉ là ở phòng vé) về mặt khách quan đã có những ảnh hưởng tích cực tới nghề nghiệp với người làm nghề điện ảnh.

Mặc dù vậy, việc làm lại phim không nên khuyến khích bởi nó có thể khiến mất đi sự chủ động của điện ảnh Việt Nam. Chưa kể, phim làm lại cần phải tuân thủ những chuẩn mực văn hóa, tránh sự lai căng, câu khách, rẻ tiền, cũng như không làm hạ thấp thị hiếu thẩm mỹ của công chúng. Nên nhớ rằng, có thể làm lại một hoặc nhiều bộ phim nhưng không thể bằng cách đó làm lại nền điện ảnh của chúng ta.

Nguyễn Thị Nam