Việc làm cho nữ giới: Chưa hết những rào cản

Thứ Hai, 22/01/2018, 23:58:05
 Font Size:     |        Print
 

Lao động nữ đang ở vị thế thấp hơn nam trong cơ cấu việc làm (Ảnh: M.net).

NDĐT - 72% phụ nữ Việt Nam tham gia làm việc, đưa nước ta vào nhóm quốc gia có tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động cao trên thế giới. Tuy vậy, phái nữ gặp nhiều khó khăn hơn trong công việc, khi họ thường phải nhận mức lương ít hơn, hay có vị thế việc làm thấp hơn nam giới.

Tỷ lệ phụ nữ làm việc cao

Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động cao nhất thế giới, với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ là 72% Điều này khẳng định, lao động nữ nước ta đang đóng góp rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước.

Đây là thông tin từ báo cáo “Phụ nữ, việc làm và tiền lương: Tổng quan về lao động nữ tại Việt Nam” của Mạng lưới Hành động vì lao động di cư Việt Nam (M.net) công bố.

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ nước ta cao hơn mức trung bình thế giới (49%), mức trung bình của khu vực châu Á và nhóm các nước thu nhập trung bình thấp. Lao động nữ tại Việt Nam chiếm 48,4% tổng lực lượng lao động. Tuy nhiên, lao động nữ còn gặp rất nhiều rào cản trong việc làm và thu nhập.

Lao động nữ đóng vai trò chính yếu trong các chuỗi cung ứng toàn cầu nhưng chỉ hưởng một phần quá nhỏ bé trong giá trị của chuỗi. Lao động nữ chiếm hơn 70% lực lượng lao động của các ngành xuất khẩu chính như dệt may, da giày và điện tử và 64% lao động trong các khu công nghiệp. Thế nhưng họ chỉ được hưởng một phần rất nhỏ bé trong toàn bộ giá trị của chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong ngành may, chi phí lao động chỉ chiếm 2% giá bán buôn của một sản phẩm trong khi các nhãn hàng đang hưởng 16% lợi nhuận. Trong khi đó các nhãn hàng vẫn thường xuyên gây áp lực giảm chi phí lao động hơn nữa. Hệ quả là, người lao động trong các chuỗi cung ứng toàn cầu tại Việt Nam đang phải làm việc với cường độ cao hơn, thời gian làm việc dài hơn với mức lương thực tế thấp hơn.

Nhưng gánh nhiều bất bình đẳng

Qua đánh giá các kết quả nghiên cứu, rất dễ nhận thấy, lao động nữ đang phải gánh chịu sự bất bình đẳng giới trong việc làm.

7,8 triệu lao động nữ nước ta đang làm việc trong khu vực phi chính thức với điều kiện lao động không bảo đảm. Tỷ lệ lao động nữ trong khu vực phi chính thức phải làm công việc dễ bị tổn thương lên tới 59,6%, cao hơn nhiều so với mức 31,8% của lao động nam trong khu vực phi chính thức.

Hơn nữa, lao động nữ đang ở vị thế thấp hơn nam trong cơ cấu việc làm. Phụ nữ chỉ chiếm 26,1% các vị trí lãnh đạo, nhưng lại đóng góp tới 52,1% nhóm lao động giản đơn và 66,6% lao động gia đình. Rõ ràng, vẫn còn rất nhiều rào cản đối với phụ nữ trong việc tiếp cận các cơ hội phát triển nghề nghiệp so với nam giới.

Bên cạnh đó, lao động nữ chiếm đa số trong nhóm lao động thất nghiệp. Cụ thể, lao động nữ chiếm tới 57,3% số người thất nghiệp ở nhóm lao động “chưa qua đào tạo’ và 50,2% trong nhóm ‘đã được đào tạo nghề/chuyên nghiệp”. Đặc biệt, tỷ trọng lao động nữ trong nhóm thất nghiệp có trình độ đại học lên tới 55,4%. Điều đó cho thấy, khả năng tiếp cận việc làm đối với lao động nữ khó khăn hơn nam ở hầu hết mọi nhóm trình độ, đặc biệt ở nhóm thấp nhất và nhóm cao nhất.

Thêm nữa, lao động nữ cũng phải làm việc trong điều kiện tồi tệ hơn lao động nam. Chỉ 49,8% lao động nữ trong nhóm lao động làm công ăn lương có ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động, trong khi đó tỷ lệ ký hợp đồng lao động của nam là 58,8%. Ngoài ra, trong khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, lao động nam có tỷ lệ ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn lên tới 73,91% trong khi với lao động nữ chỉ là 67,67%.

Điều kiện vệ sinh không bảo đảm và áp lực công việc để lại hậu quả tới sức khỏe lao động nữ. Lao động nữ chiếm từ 70-90% lực lượng lao động các ngành xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, điện tử, chế biến thủy sản. Tuy nhiên, lao động nữ đang phải làm việc trong điều kiện kém vệ sinh, nóng nực, áp lực công việc cao, và thiếu các trang thiết bị vệ sinh phù hợp cho nữ. Hậu quả là theo một khảo sát của MSI Việt Nam, có tới 68% lao động nữ trong các nhà máy xuất khẩu giày đã từng bị các bệnh viêm nhiễm phụ khoa .

Thu nhập luôn thấp hơn

Dù có cùng trình độ, vị trí công việc như nam giới, thu nhập của lao động nữ Việt Nam luôn ở mức thấp hơn so với các đồng nghiệp khác giới. Trung bình, thu nhập của lao động nữ thấp hơn nam giới 10,7%, nhưng sự chênh lệch này càng mở rộng tới các nhóm trình độ cao hơn.

Năm 2016, thu nhập của lao động nữ chưa qua đào tạo chỉ thấp hơn nam cùng trình độ là 8,1% nhưng mức chênh này lên tới 19,7% ở nhóm trình độ đại học trở lên. Theo vị trí công việc, lao động nữ đang có thu nhập thấp hơn các nam đồng nghiệp 12% ở vị trí lãnh đạo, 19,4% ở vị trí chuyên môn kỹ thuật bậc cao và 15,6% ở nhóm lao động giản đơn.

Thu nhập trung bình của lao động nữ mặc dù cao hơn ngưỡng đói nghèo (tính theo tháng) của Ngân hàng Thế giới và cao hơn mức lương tối thiểu vùng nhưng vẫn còn quá thấp so với mức lương đủ sống. Thu nhập thấp chính là một nguyên nhân quan trọng khiến phụ nữ phải lựa chọn những công việc có điều kiện làm việc tồi tệ hơn, thời gian làm việc dài hơn để nâng cao thu nhập.

Không chỉ lao động nữ, sự bất bình đẳng gia tăng có thể ảnh hưởng tới gia đình họ và cả xã hội. Bởi thu nhập thấp tác động tiêu cực tới điều kiện sống và làm việc của lao động nữ và gia đình.

Theo một khảo sát năm 2017 trong ngành lắp ráp điện tử tại Bắc Ninh, nơi phụ nữ chiếm tới 90% lực lượng lao động, có tới 71,8% người lao động phải làm thêm hơn 30 giờ/tháng và 54,5% đang làm thêm hơn 45 giờ/tháng. Hiện thu nhập từ làm thêm giờ chiếm tới 32% tổng thu nhập và hơn 50% lương cơ bản trung bình của lao động trong ngành điện tử.

Nói cách khác, nếu không làm thêm giờ, lao động nữ không thể trang trải các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu. Do đó họ phải làm thêm rất nhiều, có khi lên tới 115 giờ/tháng hoặc phải làm thêm một công việc phụ hoặc không dám mang thai. Với các phụ nữ đã có con, thu nhập quá thấp khiến họ không đủ tiền trang trải các nhu cầu thiết yếu bao gồm chi phí giáo dục và y tế cho các con.

Tỷ lệ lao động nữ di cư trong các khu công nghiệp lên tới 60%, nhưng có tới 90% số họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội hay chính sách công tại nơi đến.

Các cuộc điều tra di cư cho thấy, nữ giới chiếm tỷ lệ di cư ngày càng cao, tạo nên hiện tượng “nữ hóa” di cư. Tỷ lệ nữ giới chiếm 52,4% tổng số người di cư nội địa .

Tuy nhiên, một nghiên cứu của Oxfam Việt Nam thực hiện năm 2015 cho thấy, phần lớn phụ nữ di cư và con cái họ gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội cơ bản.

Cụ thể, có tới 71% người lao động di cư không tiếp cận được tới dịch vụ y tế công tại nơi đến. Và 21,2% trẻ trong độ tuổi từ 6 -14 tuổi theo cha mẹ lao động di cư sinh sống tại nơi đến không đi học.

Đây là con số đáng báo động về tình trạng trẻ không tiếp cận được hệ thống giáo dục. Chỉ có 7,7% trẻ em di cư đi nhà trẻ công lập, và 12% trẻ em di cư đi học trường mẫu giáo công lập. Hầu hết các trẻ đi nhà trẻ, mẫu giáo đều là các nhà trẻ, mẫu giáo tư nhân hoặc các nhóm giữ trẻ tại gia đình.

* Mạng lưới Hành động vì lao động di cư (M.net) thành lập từ tháng 10-2014, với bảy tổ chức thành viên trong nước.

Mục đích hoạt động của M.net nhằm thúc đẩy sự tham gia và tiếp cận bình đẳng của người lao động di cư Việt Nam với các hệ thống an sinh xã hội; bình đẳng và bảo đảm quyền của lao động di cư được thực thi thông qua các nỗ lực vận động chính sách và các hoạt động dự án, can thiệp cụ thể.

NGÂN ANH

Chia sẻ