Về loạt bài than lậu tại Quảng Ninh

Sự im lặng đáng sợ!

Thứ Năm, 26/12/2013, 07:35:39
 Font Size:     |        Print
 

Tàu chở "than ngoài Tập đoàn".

THỜI NAY - Như đã nêu ở các kỳ trước, mỗi năm có hàng triệu tấn than thất thoát từ “thiên đường than lậu” Quảng Ninh và hàng trăm tỷ đồng thất thoát từ “nghiệp vụ” kế toán, kê khai của Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin). Song đã gần một tháng trôi qua, từ khi vụ việc được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, hầu như tất cả các “đầu mối” có thẩm quyền đều rơi vào im lặng và coi như chưa có chuyện xảy ra.

* Kỳ 4: Những quyết định bất thường ở Vinacomin

* Kỳ 3: “Bảo hộ” than lậu

* Kỳ 2: Đường đi của than lậu

* Kỳ 1: “Thiên đường” than lậu!

Việc chúng tôi ghi hình bảy tàu than loại trọng tải 3.000 tấn đang thực hiện sang mạn tại khu vực cầu cảng Nhà máy Xi-măng Hạ Long, Nhà máy Xi-măng Thăng Long, Cảng Cái Lân chỉ trong vòng một giờ đồng hồ của đêm 24 rạng ngày 25-11, đã cho thấy quy mô đường dây xuất lậu than từ “thiên đường” Vũ Oai- Hà Khánh là rất lớn.

Theo nguồn tin tin cậy cho biết, đúng thời điểm này, đang có “báo động” với việc ba tàu than vừa bị Cơ quan CSĐT C46 (Bộ Công an) bắt trước đó, nên số lượng hàng xuất từ “thiên đường” giảm hẳn. Nếu vào lúc “báo yên”, năng lực xuất hàng từ đây ít nhất cũng lớn hơn như vậy.

Cứ theo cường độ ấy mà suy luận, mỗi tháng chu kỳ con nước kéo dài 23 ngày, nhân với 12 tháng, thì số lượng than thất thoát tối thiểu cũng phải cỡ 5,5 triệu tấn/năm, tương đương gần 50% lượng than dự kiến xuất khẩu năm 2013 của Vinacomin. Còn nếu quy ra tiền theo giá xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc hiện nay đối với loại than nhiệt lượng 5.000- 6.000 kcal (giá khoảng 60 - 70 USD/tấn, tương đương 1.230.000- 1.450.000 đồng/tấn), giá trị thất thoát cũng hàng nghìn tỷ đồng/năm.

Sang mạn giữa hai tàu 500 tấn và tàu 3.000 tấn lúc 17 giờ 30 phút, ngày 24-11-2013. (Ảnh trích từ băng tư liệu)

Một vấn đề nữa, ngoài hành vi xuất lậu và bảo kê cho xuất lậu than, còn phải kể đến trách nhiệm chính đơn vị sản xuất, kinh doanh và được giao quyền quản lý loại tài nguyên này, đó là Vinacomin:

Thứ nhất, tập đoàn đã lợi dụng độc quyền để điều tiết giá mua nội bộ với mục đích chuyển giá, gây thiệt hại cho các cổ đông và người lao động ở một số công ty cổ phần (CP) như: Than Mông Dương, Than Cao Sơn, Tây Nam Đá Mài... với trị giá hơn 200 tỷ đồng.

Thứ hai, một số công ty thành viên của tập đoàn đã hạch toán tăng chi phí sai quy định, dẫn đến làm giảm đáng kể lợi nhuận và gây thiệt hại về thuế cho ngân sách Nhà nước. Điển hình như việc tùy tiện tăng tỷ lệ đơn giá tiền lương, chi sai hơn 91 tỷ đồng ở Công ty CP Than Cao Sơn. Đây thực chất là một thủ thuật trốn thuế khá phổ biến, nhưng điều đáng nói là nó đã được thực hiện trót lọt trong suốt thời gian dài, từ năm 2009 đến nay mà không bị “phát hiện”.

Thứ ba, tại Công ty Kho vận và Cảng Cẩm Phả, được mệnh danh là “cánh tay nối dài” của tập đoàn đã để xảy ra quá nhiều sai phạm liên quan đến việc kê khai thuế. Nghiêm trọng nhất là vụ “nhân bản” 12 hóa đơn giảm trừ thuế GTGT đầu vào (đã kê khai tháng 7-2012, lại tiếp tục lặp lại kê khai trong tháng 8-2012), làm biến mất khỏi “chiếc bánh lợi nhuận” của doanh nghiệp hơn 480 tỷ đồng. Cùng với khoản lợi nhuận bị mất, doanh nghiệp còn bị “tước đoạt” khoản khấu trừ thuế GTGT hơn 48 tỷ đồng. Tuy nhiên, hiện số tiền hơn 48 tỷ đồng đã xác định được lý do thất thoát, vì không được khấu trừ, còn số tiền hơn 480 tỷ đồng đã đi đâu hay chui vào túi ai vẫn không rõ.

Thứ tư, cũng tại Công ty Kho vận và Cảng Cẩm Phả, trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 4-2013 đã xảy ra việc kê khai trùng 17 hóa đơn bán than phục vụ xuất khẩu trị giá hơn 507 tỷ đồng. Thực chất của “trò chơi” này, theo phân tích của giới chuyên gia, là công ty con xuất hóa đơn bán than cho công ty mẹ để thực hiện kiểm soát nguồn ngoại tệ và chênh lệch tỷ giá, sau đó công ty mẹ lại ủy quyền cho công ty con xuất khẩu.

Tuy nhiên, trong quá trình than “lưu chuyển” trên sổ sách, công ty con đã thực hiện màn ảo thuật ngoạn mục. Cụ thể, tháng 1-2013, xuất hóa đơn (tạm xuất khẩu), đến tháng 4-2013, xuất hóa đơn (tạm nhập khẩu), đồng thời ngay sau đó, tiếp tục xuất hóa đơn (tái xuất khẩu).

Trên thực tế, một hợp đồng xuất khẩu có thể được hoàn tất thông qua nhiều lần vận chuyển, thể hiện bằng các vận đơn hàng hải. Vì vậy, vấn đề ở đây không phải là chuyện thất thoát giá trị hàng hóa (bởi cân đối trên kê khai không thay đổi), mà ở chỗ các giá trị xuất- nhập- tồn kho và thuế GTGT đầu ra sẽ được phân bổ như thế nào? Do đó, cần phải truy lại toàn bộ các giao dịch nội bộ, nếu thuế GTGT đầu ra không được phân bổ, thì phải xem các giá trị xuất- nhập- tồn kho có bắt nhịp theo “điệu nhảy” kê khai hay không? Nếu có, rất có thể vào tháng 1- 2013, Công ty Kho vận và Cảng Cẩm Phả đã cho ai đó “mượn” một số lượng than rất lớn, trị giá tới hơn 507 tỷ đồng và mãi đến tháng 4-2013 mới “bù” vào được? Chúng tôi tạm thời không đưa ra lời khẳng định về việc Công ty Kho vận và Cảng Cẩm Phả cho mượn than để xuất lậu, nhưng nếu không xuất lậu thì cho mượn than và xuất các hóa đơn trùng nhau để làm gì? Theo chúng tôi được biết, “chiêu thức” cho mượn than thường được áp dụng tại các đơn vị của tập đoàn.

Vụ việc nêu trên báo rất rõ như vậy, nhưng điều cần nói ở đây chính là thái độ tiếp nhận và xử lý thông tin của các cấp, ngành chức năng.

Có thể kể ra, đó là trường hợp của ông Nguyễn Văn Thiếu, Trưởng phòng Trinh sát (Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam). Khi chúng tôi hỏi về buôn lậu than thì ông Nguyễn Văn Thiếu nhiệt tình cung cấp về… buôn lậu xăng dầu và thuốc lá.

Còn ông Nguyễn Hùng Anh, Phó cục trưởng Cục Chống buôn lậu, nguyên Hải đội trưởng Hải đội I, hoạt động trên địa bàn Quảng Ninh, lại tỏ vẻ khá “ngạc nhiên” khi chúng tôi chỉ ra trên thực tế muốn chứng minh than lậu rất dễ. Chỉ cần căn cứ vào những dấu hiệu như than không được vận chuyển theo đường công vụ, hoặc vận chuyển ban đêm, hoặc bốc xúc bên ngoài khu vực cảng chuyên dụng, là có thể kết luận ngay đó là than lậu. Ông Nguyễn Hùng Anh cho biết, chưa biết về các dấu hiệu như vậy…

Còn tại trụ sở của Vinacomin, sau hơn ba tháng đăng ký làm việc, ông Nguyễn Văn Biên, Phó tổng giám đốc Vinacomin, mới tiếp phóng viên. Thay vì thẳng thắn đề cập những nội dung báo Thời Nay đã nêu, ông Nguyễn Văn Biên lại nói về công tác tổ chức, phối hợp chống than lậu. Ông cho biết, Tập đoàn có một lực lượng bảo vệ hùng hậu khoảng 5.000 người, bao gồm cả lực lượng “chìm” và “nổi” để đi đến kết luận: “Như thế là tương đối chặt chẽ!”, “Nạn khai thác than trái phép đã cơ bản được dẹp bỏ!” và đến nay, “Vinacomin không còn than lậu”.

Theo ông Nguyễn Văn Biên phân tích, có chăng đó là “than ngoài tập đoàn”, chủ yếu do khai thác trái phép ngoài ranh giới mỏ, hay than trộm cắp từ các đơn vị của tập đoàn, than trôi ở các sông suối, do dân bòn đãi được, Tập đoàn đã thực hiện thu mua theo quy định của Bộ Công thương, nhưng kết quả rất hạn chế… Tập đoàn chỉ có trách nhiệm trên địa phận được Nhà nước giao chứ “than ngoài tập đoàn” thì đó là trách nhiệm của địa phương và các ngành chức năng khác. Trong khi chính Tập đoàn lại được Nhà nước giao độc quyền khai thác, chế biến và tiêu thụ than.

Song có lẽ, cần phải nhắc tới trách nhiệm của các cấp, ngành, lực lượng chức năng, như: công an, biên phòng, thuế và chính quyền tỉnh Quảng Ninh. Cho đến nay, cả bốn “đầu mối” có trách nhiệm rất lớn về các vụ việc đã và đang xảy ra tại tỉnh Quảng Ninh, vẫn… im lặng đáng sợ, cho dù chúng tôi đã gửi đến họ những yêu cầu làm việc.

Hoạt động tập kết than về bãi Ng. "Đen" lúc 2 giờ sáng, ngày 24-11-2013. (Ảnh trích từ băng tư liệu)

Bài và ảnh: Nhóm phóng viên điều tra