Ông thợ trống kỳ lạ

NDĐT - Nhiều khách hàng bảo ông Lê Ngọc Hùng – nghệ nhân ưu tú của làng trống Đọi Tam (xã Đọi Sơn, Duy Tiên, Hà Nam) là ông thợ trống kỳ lạ. Ông là người đi tiên phong trong việc “viết tem” truy xuất nguồn gốc sản phẩm trống Đọi. Đồng thời, cũng là một trong những nghệ nhân có tư duy mới trong việc giữ gìn và phát triển làng nghề truyền thống.

Viết giấy khai sinh cho trống mới “chào đời”

Làng nghề trống Đọi Tam, nằm dưới chân núi Đọi, một trong những ngọn núi có vị thế và cảnh đẹp ở Hà Nam. Đây cũng là quê hương của hai quả trống Sấm lớn nhất Việt Nam và giàn trống hội phục vụ đại lễ 1.000 năm Thăng Long Hà Nội.

Nghề làm trống ở Đọi Tam có lịch sử trên 1.000 năm. Người già đến trẻ nhỏ xã Đọi Sơn đều thuộc lòng truyền thuyết về hai anh em ông tổ làng nghề Nguyễn Đức Năng và Nguyễn Đức Bản khi xưa nghe tin vua Lê Đại Hành sắp về làng làm lễ tịch điền để khuyến nông liền về nhà hạ cây mít trong vườn, thịt con trâu lấy bộ da để làm trống đón vua. Mùa xuân năm Thiên Phúc thứ 7 thời vua Lê Đại Hành (tức năm 987), ngài đã xuống ruộng hành lễ tịch điền ở Đọi Sơn trong tiếng trống của anh em Năng, Bản.

Cũng chính bởi tiếng trống vang như sấm mà sau này hai ông được tôn làm Trạng Sấm, và Đọi Sơn là làng nghề hiếm hoi trong cả nước biết rõ được năm sinh, năm mất của cụ tổ nghề Nguyễn Đức Năng (925-990).

  Cơ sở sản xuất trống Thanh Hùng của ông lớn nhất nhì ở Đọi Tam

Làng nghề trống Đọi Tam đời nào cũng có những nghệ nhân xuất sắc, ông Lê Ngọc Hùng là một trong số đó. Cơ sở sản xuất trống Thanh Hùng của ông lớn nhất nhì ở Đọi Tam, cả năm sản xuất đến cả nghìn quả trống các loại.

Ở cái tuổi ngoại ngũ tuần, thân hình cao lớn và đôi mắt tinh anh, ông Hùng có cái tướng tá của người làm kinh tế thị trường hơn của một nghệ nhân truyền thống. Ngày nhỏ, cũng như bao lớp trai đinh trong làng 12, 13 tuổi anh em Hùng đã thuộc nằm lòng những công thức bí truyền của nghề trống và theo cha rong ruổi đi khắp các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ cho tới miền núi và vào trong miền trung, Tây Nguyên bưng trống. Trong ký ức xa xôi của cậu bé Hùng, đây là cái nghiệp mà cha ông mình đã gắn bó cả đời, thậm chí đến lúc mất ông nội của Hùng còn chưa về được đến nhà.

Ông bảo: Nhà có bốn anh em trai, một bác giữa không may đoản mệnh còn lại ba anh em tôi, bác cả thì tham gia công tác chính quyền, chú út rẽ lối khác làm nghề đàn môi, chỉ còn mình tôi là đeo đuổi nghề làm trống truyền thống của cha ông.

Tâm huyết lớn nhất cả đời ông Hùng đó là làm thế nào để phát triển và giữ vững được thương hiệu trống Đọi Tam. Bởi thế, mỗi sản phẩm qua tay ông đều chứa đựng cái tâm huyết đó. Dù là làm trống đình, trống hội hay trống trường… ông đều cẩn trọng trong việc lựa chọn nguyên liệu sao cho các thanh gỗ đủ độ khô, độ dày phù hợp với kích cỡ từng loại trống.

“Những chiếc trống tốt thì miệng trống phải phẳng, đến khi bị hỏng thành mặt trống không bị biến dạng, chỉ cần căng mặt là xong. Có những người vì lợi nhuận họ sẵn sàng ăn bớt nguyên liệu, xẻ mỏng thanh gỗ khi mặt trống hỏng thành gỗ sẽ bị cong rất khó tái sử dụng được”, ông Hùng giảng giải.

Mỗi chiếc trống sau khi hoàn thiện ông đều cẩn thận ghi lại thông tin về ngày, tháng, năm và nơi sản xuất trong thành trong mặt trống giống như người ta làm giấy khai sinh cho những đứa trẻ mới chào đời.

  Mỗi chiếc trống sau khi đóng xong ông đều ghi lại thông tin tác giả trong thành trong mặt trống.

Đến bất cứ địa phương nào làm trống, ông Hùng đều làm việc với đầy đủ ban ngành. Đóng xong thông tin “tác giả” lên trống rồi, có khi ba mươi năm sau, địa phương ấy tìm đến, vời ông về sửa trống, ông Hùng vẫn nhớ chính xác họ tên, năm sinh, của từng người đã thuê mình làm trống năm xưa.

Có khi sửa một chiếc trống mà số điện thoại, bảng tên đóng trên trống là người khác, song nhìn ngắm một vòng, ông Hùng đã khẳng định trống này do chính tay ông làm. Thông tin trên trống bị thay đổi là do lối cạnh tranh không lành mạnh. Nhiều khách không tin, ông Hùng bèn mở mặt trống, chỉ cho họ thấy ngày, tháng, năm hoàn thiện trống được ông cẩn thận ghi lên mặt trong của thành trống. Những vị hữu trách đương nhiệm chỉ biết kinh ngạc nhìn ông thợ trống kỳ lạ.

Ông Hùng bảo: “Cái tiên quyết của người làm nghề, của một sản phẩm vẫn là chất lượng. Và người yêu nghề, trân trọng nghề, không bao giờ đánh đổi uy tín để lấy lợi nhuận trước mắt, “lãi ít hơn, nhưng lại đi được đường trường”.

Sáng tạo từ chính nghề truyền thống

Kinh tế ngày càng phát triển, kéo theo nhu cầu đa dạng của mẫu mã sản phẩm càng nhiều. Nên việc “chuyển đổi mặt hàng” để đáp ứng nhu cầu của thị trường là điều tất yếu, vừa để giữ công nhân, vừa lấy sản phẩm hiện đại “nuôi” sản phẩm truyền thống của làng.

Năm 2011, khi thị trường trống đã bão hòa, ông Hùng mày mò tìm hướng đi mới cho làng nghề trống Đọi bằng cách nghiên cứu sản xuất ra những mặt hàng dân dụng đáp ứng nhu cầu thị trường. Xuất phát từ việc… xem phim cổ trang, thấy có những chậu ngâm chân, bồn tắm gỗ ông cũng vì “ngứa nghề”, “tức nghề” mà làm thử. Chỉ dám làm thử thôi vì ông nghĩ những món đồ đó dành cho tầng lớp quý tộc, thượng lưu xưa hoặc đại gia thời mới chứ thường dân đâu mấy ai “dám” dùng.

  Bồn tắm bằng gỗ

Khi ghép chậu ngâm chân, bồn tắm xong ông thử đưa đi… hội chợ, chẳng ngờ khách bắt đầu mua rồi dần dần trở thành hai sản phẩm phổ biến đến cả “thường dân” như ngày hôm nay.

Hay bình rượu gỗ sồi cũng là sự sáng tạo, kiên trì của ông. Lúc đầu bình rượu làm bằng gỗ mít, chỉ có tác dụng trang trí, vì vật đựng rượu thực chất là túi nilon lớn “giấu” bên trong, miệng bình chỉ khoét một lỗ để cái khoá gắn với túi nilon “chui” ra bên ngoài. Sau này xem trên các phương tiện thông tin thì thấy có nói đến gỗ sồi, khi bỏ rượu trắng vào, để ít nhất là ba tháng thì màu của rượu sẽ chuyển sang màu ngà ngà, mà lại có vị ngọt ngọt, chan chát giống rượu booc-đô của Pháp. Thế là ông làm bình rượu bằng gỗ sồi.

  Bình rượu gỗ sồi

Lúc đầu các thanh gỗ được gắn bằng keo, kín, khít nhưng ngâm rượu là hoá chất trong keo phai ra, không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, không dùng được; nên bắt buộc ông phải nghĩ cách làm sao để không dùng keo gắn mà rượu đổ vào vẫn không chảy. Quãng thời gian “nghĩ cách” ấy mất đến 2-3 năm mới cho ra đời được loại bình rượu hoàn chỉnh, bảo đảm an toàn như ngày hôm nay.

Ông Hùng giải thích: “Gỗ sồi có một mặt dẫn nước, một mặt ngăn nước, nên nếu không nắm rõ, để mặt dẫn nước vào trong là rượu tự ngấm theo thớ gỗ ra ngoài. Các thanh gỗ xẻ dọc, ghép lại thành hình trụ rồi đốt lửa bên trong để tăng độ thơm của gỗ, đồng thời cho gỗ dẻo ra. Lúc đó công đoạn gò cong thanh gỗ sẽ dễ dàng hơn. Cuối cùng là đưa vào ép bằng máy ép thuỷ lực, bảo đảm độ khít đến tuyệt đối mà hoàn toàn không có một chút keo nào”. Và từ năm 2016 đến nay, bình rượu gỗ sồi là mặt hàng bán chạy nhất, thậm chí thường xuyên cháy hàng của Đọi Tam.

Cái hay của làng Đọi Tam là dù sản xuất các sản phẩm khác, nhưng công thức để làm các sản phẩm đó cũng đều từ công thức làm trống mà ra. Trống thì ghép bằng gỗ mít, nhưng ba mặt hàng chủ lực của Đọi Tam hiện nay là chậu ngâm chân, bồn tắm thì ghép bằng gỗ thông, còn bình rượu thì ghép bằng gỗ sồi nhập khẩu. Như thế vừa áp dụng được kỹ thuật, công thức gốc của nghề làm trống, vừa đáp ứng được thị hiếu, nhu cầu của thị trường.

Cổ phần hoá “trống Đọi” để con cháu giữ nghề làng

Ai đó lo, khi dốc sức với hàng dân dụng, thì nghệ nhân sẽ “nhãng” sản phẩm truyền thống của làng. Song trước ông Hùng, nghe cách ông nói, chứng kiến cách ông làm mới thấy những lo lắng đó là… không đáng lo. “Bằng chứng” là tay nghề trống của ông Lê Ngọc Hùng vẫn “đương kim” số 1 Đọi Tam (ông Hùng được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú năm 2016). Và có nhìn cách ông nâng niu từng chiếc trống do tay mình làm ra, mới hiểu không phải nghệ nhân trống làng Đọi nào cũng trân quý nghề làng được như ông.

Ông Hùng khẳng định nghề làm trống chưa bao giờ hết việc, tiếng trống cũng chưa bao giờ vắng bóng trong đời sống: “Từ ngày tôi còn là đứa trẻ, tất cả các xóm đều có trống để báo bão, để thông báo họp hành. Tiếng trống trong các mùa trung thu, trại hè. Tiếng trống trường, rồi trống vũ liên báo động vỡ đê hay hoả hoạn. Thời xa nữa thì tiếng trống trận. Nên tiếng trống Đọi Tam luôn gắn liền với từng bước thăng trầm của lịch sử. Người làm trống chỉ thực sự yêu nghề, thấy được giá trị của nghề, biết tự hào về nghề là đã có thể phát triển tốt rồi”.

  Các loại trống to nhỏ khác nhau

Tuổi 56, ông Hùng vẫn liên tục học hỏi, cập nhật công nghệ để xây dựng kênh tiêu thụ. Ông cũng không quá bi quan trước việc ngày càng ít người trẻ Đọi Tam không muốn nối nghề làng: “Thời nào cũng có những khó khăn riêng của nó, quan trọng là mình có biết chọn cái khó rồi biến nó thành chiến lược để phù hợp với đời sống đương đại hay không. Như gia đình tôi, các con đã trưởng thành, song tôi vẫn để chúng tập trung sản xuất cùng bố mẹ. Tôi đang có kế hoạch lập doanh nghiệp, tiến hành cổ phần hoá rồi mới chia cho con cháu. Khi lợi ích kinh tế của chúng đã nằm cả ở đó, thì ắt chúng sẽ tự có trách nhiệm, và như thế cũng là môt cách rất tự nhiên để chúng nối nghiệp truyền thống của làng” – ông Hùng khúc chiết nói.

Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam, Lê Duy Dần đã từng khẳng định “Nghệ nhân chính là những báu vật của các làng nghề Việt”. Quả thật những nghệ nhân như anh Hậu, bà Thuận hay ông Hùng chính là những báu vật đó. Họ là những tấm gương đại diện cho hàng nghìn nghệ nhân tiêu biểu của làng nghề Việt đang ngày ngày gìn giữ và phát triển những bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Bài 1: “Kỳ nhân” trong “cuộc chơi” con bột sắc màu

Bài 2: Tự hào là nông dân Việt


Chia sẻ bài viết này

  Facebook      Twitter