Ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì đà tăng trưởng

Thứ Sáu, 19/04/2019, 19:01:22

NDĐT - Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế ở mức khá và có cải thiện trong quý I năm 2019, mục tiêu đặt ra là tiếp tục ổn định nền tảng kinh tế vĩ mô để duy trì đà tăng trưởng trong các quý còn lại của năm, qua đó đạt được các mục tiêu tăng trưởng cho cả năm 2019.

Ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì đà tăng trưởng

Ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng ban Chính sách kinh tế vĩ mô thuộc CIEM.

Kinh tế vĩ mô quý I tăng trưởng tích cực

Sáng 19-4, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ (CIEM) với sự hỗ trợ của Chương trình Australia Hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform) tổ chức hội thảo công bố báo cáo “Kinh tế vĩ mô Việt Nam: Kiên trì cải cách trong bối cảnh thế giới bất định”, nhằm cập nhật, phân tích, đánh giá diễn biến kinh tế vĩ mô quý I năm 2019, cập nhật triển vọng kinh tế vĩ mô năm 2019, đồng thời kiến nghị một số định hướng đổi mới kinh tế và giải pháp chính sách cho công tác quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô trong năm 2019.

Theo báo cáo mới nhất vừa được CIEM công bố, trong ba tháng đầu năm, các chỉ số kinh tế vĩ mô tăng trưởng tích cực. Cụ thể, GDP quý I đạt 6,79%, tuy thấp hơn so với quý I năm 2018 (7,45%) và kịch bản ban đầu của Chính phủ (6,93%), song vẫn cao hơn cùng kỳ các năm 2009-2017.

Tuy vẫn bị hạn chế bởi dịch tả lợn châu Phi và cạnh tranh từ các quốc gia xuất khẩu thủy sản, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn đạt mức tăng trưởng khá, đạt 2,68%. Trong khi đó, khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng trưởng lần lượt ở mức 8,63% và 6,5%.

Đầu tư tư nhân và FDI tiếp tục là điểm sáng, thể hiện ở cơ cấu nguồn đầu tư tiếp tục xu hướng chuyển dịch thu hẹp tỷ trọng đầu tư từ khu vực Nhà nước và tăng tỷ trọng đầu tư từ khu vực ngoài Nhà nước. Mức tổng vốn FDI đăng ký đạt 10,8 tỷ USD trong quý I, tăng 86,2% so với cùng kỳ 2018 và cao hơn nhiều so với cùng kỳ những năm gần đây. Giải ngân vốn FDI đạt 4,12 tỷ USD, tăng 6,2%. Góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 5,69 tỷ USD, gấp ba lần so với cùng kỳ năm trước.

Đặc biệt, xuất khẩu vẫn duy trì đà tăng với tổng giá trị xuất khẩu đạt 58,86 tỷ USD, tăng 5,3%, nhờ một số yếu tố như cải cách hành chính, các ngân hàng thương mại đưa ra nhiều sản phẩm hỗ trợ tài chính xuất khẩu và hầu hết các thành viên CPTPP đã phê chuẩn đều thực hiện cắt giảm thuế quan hai lần cho Việt Nam.

Cập nhật triển vọng 2019.

Kết quả cập nhật dự báo cho thấy, tăng trưởng kinh tế năm 2019 ước đạt 6,88%. Tăng trưởng xuất khẩu dự báo ở mức 9,02%. Thặng dư thương mại ở mức 3,1 tỷ USD. Mức tăng giá tiêu dùng trong năm là khoảng 3,71%.

Theo nhận định của CIEM, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đà mở rộng tăng trưởng. Đà phục hồi tăng trưởng trong những năm qua có một phần quan trọng từ những cải cách thể chế kinh tế nói chung và môi trường kinh doanh nói riêng.

Ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng ban Chính sách kinh tế vĩ mô thuộc CIEM phân tích, công tác điều hành tài khóa thời gian qua có một số điểm tích cực như, hiệu quả phối hợp của chính sách tài khóa với các chính sách kinh tế vĩ mô khác được cải thiện đáng kể, cơ cấu lại ngân sách nhà nước ít nhiều đã mang lại hiệu quả tích cực, và điều hành chính sách tài khóa cũng linh hoạt hơn.

Tỷ giá của ngân hàng thương mại và thị trường tự do khá ổn định. Điều hành tỷ giá được tạo thuận lợi. Tỷ giá hữu hiệu thực tăng khoảng 1% so với quý IV năm 2018, song giảm 2% so với quý I năm 2018. Lạm phát cơ bản bình quân tăng 1,83%, cho thấy điều hành chính sách tiền tệ vẫn ổn định và không gây áp lực lên mặt bằng giá.

Tiếp tục ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô

Sau những kết quả kinh tế - xã hội khá ấn tượng trong năm 2018, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp đà để bứt phá trong năm 2019, hướng tới hoàn thành mục tiêu kế hoạch cho cả giai đoạn 2016-2020. Theo TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM, Chính phủ tiếp tục nhấn mạnh ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường kinh doanh và sức chống chịu của nền kinh tế. Diễn biến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tiếp tục được theo dõi sát với không ít động thái, thông điệp điều hành xuyên suốt quý I.

Tuy nhiên, Việt Nam cũng nhận diện không ít khó khăn, thách thức để hiện thực hóa kỳ vọng ấy, đặt trong bối cảnh kinh tế quốc tế ngày càng bất định và dư địa cho chính sách kinh tế vĩ mô để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế không còn nhiều.

Đối với những quý còn lại trong năm, CIEM cho rằng, diễn biến kinh tế vĩ mô trong quý II-IV có thể chịu ảnh hưởng của một số yếu tố bên ngoài, bao gồm rủi ro suy thoái của kinh tế Mỹ gia tăng, căng thẳng thương mại ở khu vực khó hạ nhiệt, nhu cầu phê chuẩn sớm EVFTA có thể giảm bớt (do chương trình nghị sự khá bận rộn liên quan đến Brexit, đàm phán thương mại với Mỹ và vừa phê chuẩn FTA với Nhật Bản trong quý I), hàng xuất khẩu của Việt Nam có thể phải đối mặt với nhiều hàng rào kỹ thuật hơn ở các thị trường nước ngoài, kể cả thị trường CPTPP, và thị trường tài chính quốc tế có thể còn phản ứng nhanh và quá mức trước những diễn biến bất lợi, đặc biệt liên quan đến các vấn đề địa chính trị.

Ông Nguyễn Anh Dương cho biết, theo những cập nhật mới nhất thì việc Việt Nam đạt được các mục tiêu năm nay về tăng trưởng, xuất khẩu, lạm phát, thặng dư thương mại… nhiều khả năng là trong tầm tay, nhưng vấn đề chính vẫn nên là củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc hơn, để không chỉ hiện thực hóa những mục tiêu trong năm nay, mà còn cả trong năm sau và chuẩn bị cho 10 năm tới nữa.

Trong chừng mực ấy, cách làm bài bản, nhất quán sẽ là yếu tố quan trọng nhất. Theo ông Dương, những cải cách mà Chính phủ đã đề ra trong thời gian qua rất có ý nghĩa và cần phải tiếp tục làm sâu sắc hơn. Ngoài ra, các ưu tiên chính sách cũng cần nhấn mạnh vào ổn định kinh tế vĩ mô để làm nền cho cải cách. Giữa bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, Việt Nam vẫn cần phải tiếp tục xây dựng những kịch bản mới, không phải là để thay đổi chính sách mà nhằm ứng phó với những diễn biến, thay đổi mới.

Ông Dương khuyến nghị, Việt Nam cũng cần tích cực trao đổi với các đối tác kinh tế lớn như Australia, New Zealand, Nhật Bản hay các quốc gia châu Âu, bởi họ cũng là những đối tượng chịu tác động từ những ảnh hưởng của các nền kinh tế siêu cường như Mỹ hay Trung Quốc, và bởi vậy cũng có những kinh nghiệm ứng phó riêng có thể chia sẻ với Việt Nam. Thí dụ như liên quan đến tỷ giá, cần chú ý rằng hiện cả EU và Nhật Bản gần như chưa có động thái nào về tỷ giá trong căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Đó cũng là thuận lợi cho điều hành tỷ giá của Việt Nam. Và ngược lại, Việt Nam cũng cần tạo quan hệ đối thoại sâu rộng hơn với những đối tác này để từ đó có thể nắm được những biến động của kinh tế thế giới, không phải chỉ từ những nền kinh tế siêu cường mà còn cả góc nhìn từ những nền kinh tế có quy mô nhỏ hơn.

TRUNG HƯNG