Điểm nhấn trong hoạt động ngân hàng 2017

Thứ Ba, 21/11/2017, 17:55:03
 Font Size:     |        Print
 

NDĐT - Năm 2017 là năm thành công của hệ thống ngân hàng Việt Nam với nhiều điểm nhấn tích cực, được các tổ chức quốc tế ghi nhận.

Hệ số tín nhiệm liên tục được cải thiện
Ngày 31-10-2017, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm (XHTN) Moody’s đã tiếp tục nâng mức đánh giá triển vọng của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “ổn định” lên “tích cực” trên cơ sở đánh giá nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam đang trên đà ổn định, cán cân thanh toán và vị thế đối ngoại được cải thiện, môi trường hoạt động của khu vực ngân hàng dần bình ổn.

Trong vài năm gần đây hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam từng bước được cải thiện sau nhiều năm bị hạ bậc. Từ năm 2014, tổ chức XHTN quốc tế Fitch và Moody’s đã nâng XHTN của Việt Nam lên một bậc, lần lượt ở mức B1/triển vọng Ổn định và BB-/triển vọng Ổn định. Ngày 19-10-2016, tổ chức XHTN Moody’s đã nâng mức xếp hạng tín dụng dài hạn cho hàng loạt ngân hàng Việt Nam, nhờ cải thiện khả năng thanh toán, chất lượng tài sản.

Moody’s cho biết, động thái này phản ánh kỳ vọng rằng môi trường kinh tế và kinh doanh của các ngân hàng được cải thiện ở Việt Nam sẽ dẫn đến sự cải thiện hồ sơ tín dụng, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời của các ngân hàng, đồng thời đóng góp cho sự ổn định tương đối về nguồn vốn và thanh khoản của các ngân hàng.

Chất lượng tài sản tăng
Moody’s cũng nhận định, chất lượng tài sản và mức sinh lời của các ngân hàng Việt Nam đã, đang và dự báo sẽ tiếp tục được cải thiện trong 12-18 tháng tới. Tỷ lệ nợ có vấn đề của nhóm 15 ngân hàng được đánh giá, theo Moody’s, đã giảm từ 9,4% năm 2012 xuống còn 7,1% năm 2016 và dự kiến sẽ tiếp tục giảm xuống chỉ còn 5,8% trong năm 2018. Theo thống kê của NHNN, vốn tự có toàn ngành trong tám tháng đầu năm 2017 tăng 6,92%, đạt 683.900 tỷ đồng, trong đó nhóm ngân hàng TMNN tăng 7,28%, nhóm ngân hàng TMCP tăng 5,33%. Tổng tài sản toàn ngành ngân hàng đến 31-8-2017 là 9,25 triệu tỷ đồng, tăng 8,79% so với đầu năm.

Cơ cấu tín dụng chuyển dịch tích cực
Kỳ hạn tín dụng cũng đang có sự chuyển dịch tích cực, với nguồn vốn trung, dài hạn ngày càng tăng, dư nợ tín dụng chuyển dịch từ trung, dài hạn sang ngắn hạn. Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn của toàn ngành đến hết tháng 8-2017 là 32,01%, giảm 2,5% so với đầu năm. Trong đó, nhóm ngân hàng TMNN là 35,44%, giảm 1,88% so với đầu năm, còn nhóm ngân hàng TMCP là 35,91%, giảm đến 4,02% nhờ nguồn vốn trung, dài hạn của nhóm này đạt được tăng trưởng tốt hơn. Theo Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, tỷ trọng dư nợ trung, dài hạn đến cuối tháng 9-2017 đã giảm từ mức 55,6% của cùng kỳ năm 2016 xuống còn 54%.

Nợ xấu giảm và lợi nhuận tăng
Tăng trưởng tín dụng với mức hơn 13% trong 10 tháng đầu năm đã giúp cải thiện lãi và nợ xấu của toàn ngành. Các hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngoại hối và đầu tư chứng khoán của các ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ (phí thu từ mảng thanh toán và bảo hiểm, tăng trưởng mạnh và đóng góp đáng kể vào lợi nhuận của các ngân hàng). Hệ số NIM (tỷ lệ thu nhập lãi cận biên) cũng cải thiện nhờ tăng trưởng mảng bán lẻ, cho vay khách hàng cá nhân. Khả năng sinh lời của các ngân hàng sẽ được duy trì ở mức ổn định nhờ thu nhập trước trích lập dự phòng tăng nhẹ trong vòng 12-18 tháng tới cùng với việc tín dụng tăng trưởng tốt.

Lợi nhuận tăng trưởng mạnh giúp các ngân hàng gia tăng nguồn lực tài chính để xử lý các khoản nợ xấu không thể thu hồi được, từ đó nâng cao chất lượng tài sản, dù hệ số an toàn vốn (CAR) của toàn ngành vẫn giảm so với đầu năm do tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn (hệ số CAR của toàn ngành đến 31-8-2017 là 12,37%, giảm 0,47% so với đầu năm, trong đó của nhóm ngân hàng TMNN ở mức 9,69%, giảm 0,23% so với đầu năm, còn nhóm ngân hàng TMCP là 11,12%, giảm 0,68%).

Báo cáo trước kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 14 tháng 5-2017, Thống đốc NHNN cho biết tính đến cuối năm 2016, VAMC đã cùng với các TCTD xử lý 50.139 tỷ đồng nợ xấu trong tổng số 245.924 tỷ đồng nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt. Giai đoạn 2012-2016, toàn hệ thống đã xử lý được 611,59 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 2/2017 về mức 2,56% tổng dư nợ tín dụng. Tính đến 31-12-2016, tỷ lệ nợ xấu đã bán cho VAMC, chưa xử lý chiếm 5,8%/tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế. Nếu tính cả nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu chung là 10,08%/tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế, giảm đáng kể so với mức nợ xấu là 17,21% được ghi nhận vào thời điểm 30-9-2012.

Sau khi Nghị quyết 42/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 21-6-2017, có hiệu lực trong năm năm từ ngày 15-8-2017), và Quyết định số 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” (Đề án 1058) được Chính phủ ban hành ngày 19-7-2017, việc thu giữ tài sản và bảo vệ chủ nợ của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) có nhiều chuyển động tích cực so với thu giữ trên cơ sở Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm. Trong 10 tháng đầu năm 2017, VAMC đã thu hồi được 16.000 tỷ đồng, trong đó VAMC đã phối hợp với các TCTD thu hồi được 5.000 tỷ đồng nợ xấu chỉ trong hai tháng sau khi Nghị quyết 42 có hiệu lực; còn nếu tính lũy kế từ năm 2013 đến nay, VAMC đã phối hợp với các TCTD xử lý khoảng 66.000 tỷ đồng nợ xấu, chiếm gần 23% tổng số nợ xấu VAMC đã mua trong bốn năm qua. VAMC đã giao dịch thành công hai khoản nợ có giá trị hơn 200 tỷ đồng của hai ngân hàng thương mại. Nếu sang năm 2018, VAMC được cấp đủ 5.000 tỷ đồng và đạt 10.000 tỷ đồng vào năm 2020 thì nội lực của tổ chức này sẽ càng mạnh thêm để giúp các TCTD xử lý nợ xấu.

Nhiều giải pháp và kỳ vọng mới
Kết quả cải thiện XHTN phản ánh khá sát những nỗ lực chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và ngành ngân hàng về tái cơ cấu hệ thống TCTD, xử lý và kiểm soát nợ xấu, cung cấp thông tin định kỳ lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng ra công chúng, nhất là các chỉ số mà các công ty XHTN quốc gia quan tâm; đẩy mạnh công tác truyền thông về chủ trương, đường lối, chính sách quản lý điều hành của Chính phủ và NHNN nhằm góp phần tạo sự đồng thuận trong nước và quốc tế; đề xuất, tiếp nhận hỗ trợ tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm duy trì tiếp xúc với các tổ chức XHTN quốc gia.

Để tiếp tục cải thiện chỉ số xếp hạng tín nhiệm quốc gia, ngành ngân hàng cần tiếp tục triển khai mạnh mẽ Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP và Nghị quyết số 35/NQ-CP; bám sát phương pháp, cách tính điểm của chỉ số xếp hạng tín nhiệm quốc gia và coi trọng tiếp xúc làm việc với các tổ chức XHTN và cung cấp kịp thời các thông tin, số liệu theo yêu cầu trên tinh thần chủ động, minh bạch; tăng cường sự phối hợp triển khai đồng bộ của các Bộ, ngành trong việc thực hiện các giải pháp về tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng cũng như các sản phẩm, dịch vụ đa dạng của ngân hàng hiện đại với chi phí hợp lý nhất; Thường xuyên rà soát áp dụng các biện pháp khai thác nguồn vốn, quản lý chất lượng tăng trưởng, tiết giảm chi phí làm cơ sở điều chỉnh giảm lãi suất cho vay; góp phần tích cực vào việc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trong thời gian tới.

Đặc biệt, cần nhất quán và kiên trì thực hiện Chỉ thị số 02/CT-NHNN về tăng cường bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, xử lý vi phạm về sở hữu vốn của cổ đông lớn, sở hữu chéo, đầu tư chéo và xử lý nợ xấu; Thúc đẩy hiện đại hóa hoạt động và tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng sáp nhập, hợp nhất, mua lại và khuyến khích các nhà đầu tư có đủ điều kiện tham gia cơ cấu lại tổ chức tín dụng, nhằm xử lý những đơn vị yếu kém, tăng quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh. NHNN cần triển khai những quy định khắt khe hơn nữa, tiếp cận nhanh hơn với cac chuẩn mực quản trị ngân hàng thế giới, cũng như áp dụng một số biện pháp can thiệp khác cần thiết, phù hợp với cơ chế thị trường, trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi người gửi tiền, tăng cường số hóa và quản trị rủi ro (nhất là rủi ro công nghệ và rủi ro đạo đức); ngăn chặn sự chi phối của lợi ích nhóm và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống, sự lành mạnh cảu nền tài chính-tiền tệ quốc gia và ổn định kinh tế vĩ mô cả nước nói chung…

TS. NGUYỄN MINH PHONG và Ths. NGUYỄN TRẦN MINH TRÍ

Chia sẻ