Cần có cơ chế mở để thu hút, phát triển mô hình mới

Thứ Sáu, 10/02/2017, 16:08:30
 Font Size:     |        Print
 

TS Nguyễn Văn Trung, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

NDĐT - Mô hình các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (HC-KTĐB) đã, đang được quan tâm, bởi cơ chế, chính sách đặc biệt và được kỳ vọng sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa trên phạm vi từng khu vực, địa phương. Song để các mô hình này sớm đi vào cuộc sống, cần có các giải pháp mang tính đột phá, đồng bộ nhằm tạo ra động lực phát triển và thu hút đầu tư trong và ngoài nước... TS Nguyễn Văn Trung, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trao đổi về vấn đề này.

- Ông có thể cho biết tình hình phát triển của các khu kinh tế (KKT) ven biển hiện nay và những đánh giá về khó khăn, hạn chế và nguyên nhân?

- Tính đến cuối năm 2016, cả nước có 16 KKT ven biển đã được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước khoảng 790 nghìn ha. Trong đó, phần diện tích đất quy hoạch cho mục đích sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch trong KKT ven biển chiếm khoảng 12,1%. Khoảng 40% phần diện tích đất quy hoạch này đã cho các nhà đầu tư thuê để thực hiện các dự án đầu tư với tổng số vốn đầu tư đăng ký xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong các KKT ven biển đạt 155 nghìn tỷ đồng.

Một góc KKT Vân Đồn (Quảng Ninh).

Đến nay, nhiều công trình, dự án kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội của KKT đã được hoàn thành bàn giao đi vào sử dụng như các KKT Dung Quất, Chu Lai, Đình Vũ - Cát Hải, Nghi Sơn, Vũng Áng, Phú Quốc, Vân Phong, Chân Mây - Lăng Cô; Vân Đồn... Với diện tích lớn, nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng lớn trong khi nguồn lực còn hạn chế nên các KKT ven biển đều đang trong giai đoạn đầu tư, xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

Tuy nhiên qua thời gian cho thấy, các KKT này vẫn chưa phát huy được hiệu quả bởi còn những khó khăn, hạn chế.

Trước hết cơ chế, chính sách ưu đãi các KKT mới quy định ở tầm Nghị định nên không còn đủ sức cạnh tranh trong khu vực và không thể vận dụng linh hoạt để có ưu đãi cao hơn do các cơ chế, chính sách ưu đãi chuyên ngành đều quy định tại văn bản quy phạm pháp luật cao hơn là Luật.

Mặt khác, bộ máy quản lý với thẩm quyền chưa phù hợp, hiệu lực hiệu quả chưa cao, thủ tục hành chính chưa thông thoáng; việc phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý KKT còn chưa được thực hiện đầy đủ, nhất quán và mạnh mẽ nên cơ chế "một cửa, tại chỗ" cho nhà đầu tư chưa được thực hiện tốt.

Kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực cũng chưa đáp ứng yêu cầu; một số khu ở vị trí không thuận lợi; thu hút và triển khai các dự án động lực, các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm lực, có công nghệ cao còn hạn chế; chưa tạo được sự liên kết và tương hỗ giữa các KKT làm cho sức cạnh tranh thấp…

Theo tôi, nguyên nhân chủ yếu là do nguồn lực đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội của các KKT dựa vào NSNN, chủ yếu là ngân sách Trung ương, nhưng NSNN hạn chế nên không đáp ứng đủ yêu cầu của nhà đầu tư.

Trong khi các KKT có mục tiêu phát triển và ngành, lĩnh vực tương đối giống nhau, chưa định hướng thu hút các ngành, lĩnh vực có lợi thế so sánh nên dẫn tới tình trạng cạnh tranh không hiệu quả giữa các KKT; chưa tạo được những thể chế, chính sách đặc thù, đột phá và mang tính cạnh tranh quốc tế do bị khống chế bởi pháp luật chuyên ngành.

Hơn nữa Ban quản lý KKT mới chỉ được phân cấp, ủy quyền trong một số lĩnh vực nhất định về kinh tế, đầu tư, thương mại, lao động, đất đai, xây dựng, môi trường… chưa được giao thực hiện các nhiệm vụ quản lý về hành chính, dân cư trên địa bàn KKT…

- Thưa ông trong thời gian qua, Đảng và Quốc hội đã có chủ trương quan trọng về việc xây dựng các đơn vị HC-KTĐB như Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Quan điểm của ông về sự cần thiết của việc xây dựng mô hình này hiện nay như thế nào?

-Qua hơn 13 năm phát triển mô hình KKT ở nước ta, mặc dù đã có những đóng góp tích cực vào phát triển KT-XH của các địa phương và cả nước...

Tuy vậy mô hình KKT hiện không còn mới, kém linh hoạt và còn gặp phải nhiều khó khăn, hạn chế nên đã khiến cho các KKT chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và mục tiêu đề ra của các KKT.

Trong khi nhiều quốc gia đã phát triển thành công nhiều mô hình như: “đặc khu kinh tế”, “đặc khu hành chính”, “thành phố tự do”, “thành phố công nghiệp-công nghệ cao thông minh”… với cơ chế, chính sách mở, thông thoáng và ưu đãi hơn từ những năm 1942.

Điều dễ nhận thấy, các mô hình này đã trở thành khu vực phát triển có sức lan tỏa, tạo động lực cho cả nền kinh tế phát triển.

Điều quan trọng hơn các mô hình này tiếp tục được các quốc gia hoàn thiện, phát triển với quy mô lớn hơn và có mức độ tự do, ưu đãi và cạnh tranh cao hơn trên nhiều lĩnh vực nhằm mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển KT-XH.

Từ thực tế phát triển các mô hình KKT trong nước và các mô hình đặc khu hành chính, đặc KKT, thành phố tự do ngoài nước nêu trên, trong thời gian gần đây, Đảng và Quốc hội đã có các chủ trương quan trọng về việc xây dựng các đơn vị HC-KTĐB.

Đơn cử Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Đầu tư năm 2014 có quy định về đơn vị HC-KTĐB. Văn kiện Đại hội XII của Đảng tháng 1-2016, Nghị quyết số 142/2016/QH13 ngày 12-4-2016 của Quốc hội đề cập tới nhiệm vụ xây dựng đặc KKT.

Đặc biệt gần đây Bộ Chính trị đã cho phép chủ trương nghiên cứu xây dựng các đề án thành lập đơn vị HC-KTĐB Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong, (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang).

Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang có dấu hiệu phát triển chậm lại, việc khai thác các tiềm năng, lợi thế tự nhiên và nguồn lực của đất nước đã dần tới hạn; môi trường đầu tư của Việt Nam nói chung cũng đang mất dần tính hấp dẫn do bị cạnh tranh mạnh mẽ từ các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Do vậy, việc xây dựng mô hình đơn vị HC-KTĐB với các cơ chế, chính sách về hành chính và kinh tế đột phá, vượt trội và cạnh tranh với quốc tế để tạo động lực phát triển mới, có tác động lan tỏa tích cực ở Việt Nam là hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

- Vậy để các mô hình này sớm được xây dựng và đi vào cuộc sống, theo ông chúng ta cần triển khai đồng bộ các giải pháp như thế nào?

- Hiện tại, Ban cán sự đảng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang khẩn trương hoàn thiện Báo cáo về các Đề án thành lập ba đơn vị này để Ban cán sự đảng Chính phủ báo cáo Bộ Chính trị.

Sau khi được sự đồng ý của Bộ Chính trị về việc thành lập ba đơn vị này cần triển khai đồng bộ các giải pháp cụ thể đó là:

Thứ nhất cần thực hiện thủ tục trình Quốc hội quyết định thành lập các đơn vị HC-KTĐB Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc, trong đó xác định mỗi đơn vị HC-KTĐB phải có định hướng phát triển, ngành, nghề và lĩnh vực chủ đạo phù hợp lợi thế riêng có của từng đơn vị.

Thứ hai, cần nghiên cứu xây dựng các dự án Luật đơn vị HC-KTĐB Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc chiến lược theo chuẩn mực quốc tế với mức ưu đãi cao hơn và thuận lợi hơn so với quy định của các luật hiện hành và các dự kiến cam kết quốc tế sắp tới của Việt Nam, bảo đảm vượt trội và cạnh tranh quốc tế để trình Quốc hội thông qua.

Thứ ba sắp xếp tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở đơn vị HC-KTĐB và các cơ quan có liên quan nhằm bảo đảm đơn vị này có thể chế hành chính với bộ máy quản lý hành chính tinh gọn, có thẩm quyền phù hợp, hiệu lực, hiệu quả, thủ tục hành chính thuận lợi, đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư.

Thứ tư, cần chuẩn bị, đào tạo và thu hút đội ngũ cán bộ đủ năng lực và nguồn nhân lực chất lượng cao để làm việc trong môi trường cạnh tranh quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển của các đơn vị HC-KTĐB.

Thứ năm, lập quy hoạch tổng thể; tìm kiếm và lựa chọn nhà đầu tư chiến lược có năng lực, uy tín, kinh nghiệm đầu tư, quản lý, khai thác và vận hành đơn vị HC-KTĐB.

Cuối cùng, đầu tư xây dựng một số hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu của đơn vị HC-KTĐB và đẩy mạnh thu hút đầu tư..

-Xin cảm ơn ông.

LÊ HƯƠNG TRÀ (Thực hiện)