Kinh tế 2016: Chất lượng tăng trưởng và thông điệp về một Chính phủ kiến tạo

Thứ Bảy, 21/01/2017, 12:49:04
 Font Size:     |        Print

NDĐT - Ngày 12-4-2016, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 142/2016/QH13 về “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020”, trong đó xác định các nhiệm vụ trọng tâm của đất nước và các giải pháp chủ yếu trong giai đoạn này gồm: Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; Phấn đấu tăng trưởng bình quân ở mức 6,5% - 7%; Giảm bội chi ngân sách xuống dưới 4% GDP; Cải thiện môi trường và bảo đảm an sinh xã hội... Với tính chất là năm mở đầu cho giai đoạn phát triển mới này, trong năm 2016, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu gì, thách thức mà chúng ta phải đối mặt và định hướng trong thời gian tới sẽ ra sao?

Kinh tế vĩ mô ổn định làm nền tảng cho tăng trưởng

Có thể thấy trong năm 2016, cán cân thanh toán được cải thiện, dự trữ ngoại hối tăng lên mức kỷ lục 41 tỷ USD, bảo đảm cho Ngân hàng Nhà nước có công cụ quản lý một cách linh hoạt, duy trì sự ổn định của tỷ giá và thị trường ngoại hối. Riêng lạm phát, tuy vẫn được kiểm soát, nhưng đang có xu hướng quay trở lại. Trung bình trong năm, chỉ số tiêu dùng CPI bình quân tăng 2,66% so trung bình năm trước song nếu tính riêng tháng 12-2016, CPI đã tăng tới 4,74% so tháng 12-2015.

Sự ổn định vĩ mô cùng các chính sách cải cách của Chính phủ giúp Việt Nam tăng cường vị thế và sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Theo báo cáo xếp hạng thường niên của Ngân hàng Thế giới (WB), trong năm vừa qua, xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam đã tăng chín bậc, xếp thứ 82/190 nền kinh tế được đánh giá. Rút kinh nghiệm từ giai đoạn trước, Chính phủ luôn chú trọng sự ổn định của kinh tế vĩ mô như là nền tảng kiên quyết cho tăng trưởng.

Thương mại quốc tế phát triển lành mạnh

Trong nhiều năm, mức nhập khẩu của Việt Nam luôn cao hơn đáng kể so với xuất khẩu. Nhập siêu kéo dài đã gây không ít khó khăn cho cán cân thanh toán và điều hành tỷ giá. Tuy nhiên, trong năm 2016, xuất khẩu đã có nhiều khởi sắc dù bị tác động tiêu cực do giá dầu thô giảm mạnh. Theo Tổng cục Hải quan, trong năm 2016, xuất khẩu đã tăng nhanh hơn nhập khẩu, ước đạt 175,9 tỷ USD, tăng 8,6% so với nhập khẩu, đạt 173,3 tỷ USD, tăng 4,6%. Như vậy, Việt Nam xuất siêu trở lại sau nhiều năm, đạt xấp xỉ 2,6 tỷ USD. Tỷ trọng các mặt hàng hàm lượng công nghệ cao tiếp tục có mức tăng trưởng tốt: điện thoại tăng 14,4%, đạt 34,5 tỷ USD; máy tính tăng 18,4%, đạt 18,5 tỷ USD; máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 28,4%, đạt 10,5 tỷ USD. Điều đáng tiếc, phần giá trị đóng góp của các doanh nghiệp Việt vào chuỗi giá trị các mặt hàng trên chưa cao.

Năm 2016 cũng là năm đánh dấu cam kết của Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã kết thúc đàm phán TPP vào tháng 2-2016. Hiệp định thương mại với Liên minh Kinh tế Á – Âu do Nga dẫn dắt chính thức có hiệu lực từ tháng 10-2016. Hiệp định tự do thương mại với châu Âu được ký kết từ tháng 12-2015 và đang được các bên tích cực chuẩn bị để phê duyệt chính thức và có thể có hiệu lực từ năm 2018. Mặc dù triển vọng của TPP có phần bất định sau cuộc bầu cử và tuyên bố rút khỏi hiệp định của tân Tổng thống Mỹ gần đây, Việt Nam vẫn đang tham gia vào 12 thỏa thuận thương mại tự do song phương và đa phương và là một trong những nền kinh tế có độ mở cao, đóng góp tích cực vào thương mại khu vực cũng như trên toàn thế giới.

GDP tăng trưởng ở mức hợp lý, nhưng thấp hơn kỳ vọng

Tăng trưởng GDP năm 2016 ước tính đạt 6,21% trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động và Việt Nam vẫn đang trong quá trình tái cơ cấu mô hình tăng trưởng. Dù vẫn thuộc nhóm 15 quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), song con số này thấp hơn mục tiêu tăng trưởng 6,7% đã đặt ra. Trong năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng ở mức 7,5% và tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ở mức 10,2%. Có lẽ, chúng ta cần hướng đến những con số thực tế và thận trọng hơn trong bối cảnh có nhiều thách thức về môi trường, ngân sách và nợ công để có thể bảo đảm tính bền vững trong trung và dài hạn.

Bội chi (thâm hụt) ngân sách và nợ công ở mức cao

Bội chi dẫn đến hệ lụy nợ công cao có lẽ là thách thức lớn nhất đối với ổn định vĩ mô trong cả ngắn, trung và dài hạn. Thâm hụt ước tính cho năm 2015 là 6,34% GDP. Mức thâm hụt tính đến 15-12-2016 là 192 nghìn tỷ đồng, tương đương 4,24% GDP cả năm. Con số này tuy đã giảm xuống nhưng vẫn cao hơn đáng kể so với các nước trong khu vực, như Thái-lan (2,5%), Philippines (0,9%) hay Indonesia (2,53%). Để so sánh, Liên hiệp châu Âu yêu cầu các nước thành viên duy trì mức bội chi cao nhất không quá 3% GDP.

Thâm hụt ngân sách trên dưới 5% GDP kéo dài trong 15 năm qua cho thấy, đây là vấn đề mang tính cơ cấu chứ không chỉ do tính chu kỳ của nền kinh tế. Nếu như lấy con số huy động ngân sách của Việt Nam vào khoảng 20% GDP, thâm hụt 5% cũng có nghĩa là ngân sách nhà nước đã chi 25 đồng trong khi chỉ thu được 20 đồng. Bội chi kéo dài đã khiến nợ công tăng cao lên mức đáng báo động và có khả năng vượt trần 65% GDP (tương đương 117 tỷ USD) ngay trong năm nay. Nợ công nhiều khả năng sẽ chưa dừng lại trong các năm tới nếu tăng trưởng tiếp tục trì trệ và Việt Nam chưa có những biệt pháp đột phá hữu hiệu để kiểm soát ngân sách. Cần nói thêm, theo cách tính hiện nay, nợ công chưa bao gồm nghĩa vụ trả nợ của các doanh nghiệp nhà nước. Trong một số trường hợp, như đối với Vinashin, vấn đề này có thể tăng thêm gánh nặng đáng kể cho ngân sách.

Cân bằng càng trở nên thách thức khi 70% ngân sách được dùng cho chi trả thường xuyên, tức là những khoản chi không thể cắt giảm nếu không có sự tái cơ cấu đáng kể bộ máy. Một khoản chi khác có xu hướng ngày càng tăng là ngân sách dành cho trả nợ. Chi phí đầu tư hiện chỉ chiếm dưới 20% tổng nguồn chi ngân sách.

Nợ công và bội chi ngân sách cao dẫn đến hạn chế những công cụ điều hành chính sách. Việc Chính phủ phát hành thêm trái phiếu để bù chi đã khiến cho sức ép lạm phát tăng cao. Vốn đầu tư giảm do phải dành tiền để chi thường xuyên và trả nợ. Khi nền kinh tế gặp khó khăn, rất khó để Chính phủ thực hiện các gói kích thích kinh tế như trước đây do nguồn lực hạn hẹp. Chỉ có những cải cách thực sự về cơ cấu thu chi, tinh giản bộ máy, cải cách triệt để doanh nghiệp nhà nước, tăng cường kỷ luật ngân sách và trách nhiệm giải trình... mới mong cải thiện tình hình.

Formosa và cảnh tỉnh cho chất lượng tăng trưởng

Sự cố môi trường ảnh hưởng đến hàng vạn người dân ở bốn tỉnh miền trung do Formosa gây ra trong năm 2016 là tiếng chuông cảnh tỉnh mạnh mẽ về vấn đề tăng trưởng và bảo vệ môi trường. Một đánh giá của Trường ĐH Kinh tế quốc dân cho thấy, có 60% doanh nghiệp FDI xả thải vượt chuẩn và 70% các doanh nghiệp FDI biết đầu tư vào Việt Nam sẽ giúp họ tiết kiệm chi phí về môi trường từ 10% - 50%. Đã có những trường hợp cá biệt cho thấy, những nhà đầu tư chân chính có thể rời bỏ Việt Nam do những lo ngại về vấn đề môi trường.

Dường như đã có sự đồng thuận trong xã hội, tăng trưởng phải đi đôi với chất lượng, phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Nhược điểm của phương pháp thống kê truyền thống là các hoạt động như khắc phục hậu quả môi trường hay khám chữa bệnh cho người dân cũng đều được tính vào GDP, tuy nhiên lại không thực sự đóng góp gì cho xã hội.

Hy vọng những bài học gần đây sẽ giúp chúng ta thật kiên quyết loại bỏ những dự án có thể ảnh hưởng xấu đến môi trường và cộng đồng.

Kỳ vọng từ thông điệp về một Chính phủ kiến tạo

Năm 2016 chứng kiến một bộ máy Chính phủ mới với thông điệp mạnh mẽ về một Chính phủ liêm chính, kiến tạo và phục vụ. Thủ tướng bắt đầu những hoạt động đầu tiên bằng việc tiếp xúc với giới doanh nhân, chỉ đạo xử lý triệt để những vụ việc ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh mà điển hình như vụ việc ở quán cà phê “Xin chào”, hay nỗ lực loại bỏ 3.500 giấy phép con. Những vụ việc như xử lý khủng hoảng môi trường Formosa, hay việc loại bỏ dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đem lại kỳ vọng mới về một chính phủ quyết đoán và hành động. Lần đầu tiên, Chính phủ cũng đã thoát khỏi tình trạng nợ đọng văn bản.

“Chưa bao giờ chính phủ lắng nghe doanh nghiệp như hiện nay” là nhận định được đưa ra tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) ngày 5-12-2016. Ủng hộ của doanh nghiệp và người dân sẽ là động lực lớn giúp Chính phủ xử lý tốt các thách thức như tái cơ cấu mô hình tăng trưởng, cải cách doanh nghiệp nhà nước, kiểm soát thâm hụt ngân sách và nợ công, bảo đảm ổn định vĩ mô làm nền tảng cho một giai đoạn tăng trưởng mới “vững bền” và “chất lượng”.

VŨ TUẤN ANH
Chuyên gia phân tích tài chính

Chia sẻ