Chương trình Tây Nguyên với mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững

Thứ Bảy, 23/06/2018, 02:15:44
 Font Size:     |        Print
 

Kiểm tra mô hình tích hợp ứng dụng chế phẩm sinh học trong canh tác hồ tiêu tại Tây Nguyên. Ảnh: NGUYỄN PHƯỢNG

Hai chương trình khoa học và công nghệ (KH và CN) cấp nhà nước về vùng Tây Nguyên do Viện Hàn lâm KH và CN Việt Nam chủ trì đã có những đóng góp đáng kể cho phát triển nông nghiệp vùng. Ðó là Chương trình "KH và CN phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên giai đoạn 2011- 2015" đã kết thúc và Chương trình "Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên trong liên kết vùng và hội nhập quốc tế" đã triển khai thực hiện từ cuối năm 2016, kéo dài đến năm 2020.

Các kết quả nghiên cứu đã cung cấp luận cứ khoa học cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng, đó là cần dựa trên năm trụ cột: kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa và an ninh quốc phòng, nhất là các yếu tố an ninh phi truyền thống như an ninh lương thực, an ninh nguồn nước. Mô hình phát triển bền vững Tây Nguyên trước mắt và trung hạn là nông nghiệp hàng hóa gắn với chế biến nông sản, công nghiệp hóa dược và du lịch dịch vụ. Tài nguyên đất là một trong những lợi thế lớn của Tây Nguyên, tạo tiền đề cho việc hình thành nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Diện tích tự nhiên Tây Nguyên gần 5,4 triệu héc-ta, phân hóa khá rõ rệt thành 21 vùng địa lý tự nhiên. Trong đó, có chín vùng đồi núi dốc, năm vùng trũng giữa núi, đồng bằng, bảy vùng cao nguyên (năm cao nguyên đất đỏ ba-zan và hai cao nguyên trên nền đá gra-nít, đá phiến). Các vùng cao nguyên và vùng trũng giữa núi, đồng bằng có tiềm năng phát triển nông nghiệp vượt trội. Diện tích thích nghi sinh thái cho cây công nghiệp và cây lương thực chính vùng Tây Nguyên chiếm hơn 40% diện tích tự nhiên, độ dốc địa hình <15°, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, thoái hóa đất và hoang mạc hóa đang diễn ra với quy mô ngày càng gia tăng, mâu thuẫn sử dụng nước, biến đổi khí hậu,... là những thách thức lớn cho phát triển nông nghiệp. Về chăn nuôi đại gia súc và trồng trọt, đã được đầu tư phát triển cho xuất khẩu và tiêu dùng nhưng nhiều nơi phát triển nóng, phá vỡ quy hoạch. Tiềm năng khí hậu thủy văn thuận lợi cho phát triển vùng nông nghiệp nhiệt đới gió mùa cao nguyên, song phân hóa mùa mạnh. Tổng lượng mưa cung cấp cho Tây Nguyên hơn 100 tỷ m3 nước/năm, nhưng 85 đến 95% rơi vào mùa mưa (từ tháng 5 đến 10), tạo nên khủng hoảng thừa và thiếu nước trong canh tác nông nghiệp. Do vậy, cần chủ động xây dựng nền nông nghiệp nhờ nước trời và tưới nước luân phiên.

Các nghiên cứu trong Chương trình Tây Nguyên 3 chỉ ra, phát triển nông nghiệp cần gắn với phát triển rừng và nguồn nước. Phần lớn diện tích Tây Nguyên là vùng sinh thái cảnh quan thượng nguồn của bốn hệ thống sông chính: sông Ba, sông Sê San, sông Sêrêpôk, sông Ðồng Nai. Tổng lượng dòng chảy mặt 47,9 tỷ m3/năm, lượng dòng chảy ngầm là 6,75 tỷ m3/năm, nhưng nhiều năm gần đây, xảy ra tình trạng thiếu nước trong canh tác nông nghiệp do phân phối nguồn nước kém hiệu quả. Diện tích rừng đã giảm từ hơn 60,8% năm 1990 xuống dưới 48,4% năm 2015 (nhiều nơi còn thấp hơn 40%), do đó cần phát triển rừng, nhất là rừng đầu nguồn đến 60% mới có khả năng điều tiết, cân bằng nước ứng phó với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực tưới của các hồ đập trên Tây Nguyên. Hiện, Tây Nguyên có 2.354 công trình thủy lợi lớn, nhỏ nhưng năng lực tưới chỉ đáp ứng 27,8% nhu cầu. Mực nước ngầm cũng bị hạ thấp do khai thác tự phát.

Các nghiên cứu ứng dụng phát triển nông nghiệp Tây Nguyên cũng đã được triển khai theo định hướng tổ hợp các công nghệ để giải quyết đồng bộ các yêu cầu thực tiễn. Ðó là xây dựng giải pháp ứng dụng đồng bộ một số phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong canh tác cà-phê, chè, hồ tiêu như thuốc bảo vệ thực vật Anisaf SH-01, phân nhả chậm CH03, CH06, POLYFA-TN3, chất giữ ẩm polymer thân thiện môi trường AMS-1, chất giữ ẩm CH24, polyme chống xói mòn PAM... Các công nghệ không chỉ làm tăng năng suất cây trồng, tăng độ phì đất mà còn chống xói mòn đất, ứng phó với hạn hán, sâu bệnh do biến đổi khí hậu. Các công trình đã thực hiện thử nghiệm thực tế và thành công tại ba tỉnh: Ðác Lắc, Ðác Nông, Lâm Ðồng. Công nghệ cấy chuyển phôi bò sữa cao sản góp phần nhân nhanh đàn bò sữa cao sản, nâng cao chất lượng con giống bò sữa tại Tây Nguyên. Nghiên cứu ứng dụng thụ tinh nhân tạo, nhân giống heo rừng Tây Nguyên và lai tạo heo rừng thương phẩm đã chuyển giao cho doanh nghiệp triển khai. Công nghệ chiếu sáng LED phục vụ nhân giống, điều khiển quá trình sinh trưởng của bảy loại cây trồng tại Tây Nguyên. Công nghệ viễn thám và thông tin đã thực hiện giám sát lớp phủ rừng, biến động sử dụng đất và phát triển một số dịch vụ đa phương tiện giám sát các thông số môi trường sản xuất trên nền mạng viễn thông WIMAX tại vùng Tây Nguyên.

Tuy nhiên, việc phát triển nông nghiệp tại Tây Nguyên còn mang tính tự phát, phá vỡ các quy hoạch ngắn hạn và dài hạn. Sản phẩm nông nghiệp chưa tạo thành chuỗi giá trị hàng hóa, hàm lượng KH và CN chưa cao. Các kết quả khoa học trong các lĩnh vực nông nghiệp còn đơn lẻ, thiếu tổng hợp liên ngành. Vai trò của nhà khoa học, trí thức khoa học đóng góp cho mỗi sản phẩm nông nghiệp không liên tục. Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học và tiếp nhận KH và CN tại Tây Nguyên mỏng và yếu… Trước thực trạng đó, các giá trị khoa học từ các kết quả nghiên cứu về Tây Nguyên trong các chương trình trước đây cần được truyền thông, hoàn thiện để đưa vào ứng dụng, cần có cơ chế để các tác giả công trình KH và CN gắn với địa phương và sản phẩm nông nghiệp, từ đó, nhà khoa học có trách nhiệm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công trình khoa học. Mặt khác, chuyển giao khoa học đồng bộ liên ngành sẽ đem lại hiệu quả bứt phá cho các sản phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp tại Tây Nguyên chỉ có thể trở thành ngành chủ lực khi có công nghiệp chế biến đồng hành hệ thống nông nghiệp công nghệ cao, được kiểm soát theo tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa quốc tế. Nông nghiệp Tây Nguyên phát triển tốt khi có các liên kết vùng và quốc tế. Chương trình Tây Nguyên giai đoạn 2016 - 2020 đang hướng tới để đạt các mục tiêu này.

TS, Nghiên cứu viên cao cấp Nguyễn Ðình Kỳ

Chia sẻ