Người già ở phố

Thứ Năm, 23/11/2017, 23:41:31
 Font Size:     |        Print
 

Minh họa : Phạm Bình Chương

Theo thống kê của nhiều nhà xã hội học nghiêm túc ở Tây, cũng như số liệu từ trung tâm dân số và gia đình ở ta, thì chỉ chừng mươi năm nữa thôi, người Việt sẽ phải đối diện với tình trạng lão hóa dân số.

Hiện nay, thế giới có khoảng 901 triệu người già (năm 2015), chiếm 12,3% dân số, và sẽ tăng khoảng hai tỷ người vào 2050, chiếm 22% tổng số dân toàn cầu. Riêng Việt Nam giờ đây có khoảng 10,1 triệu người cao tuổi, và cũng vào năm 2050, tỷ trọng các cụ sẽ là 26%. Tất nhiên chẳng cần thông tin này thì bằng mắt thường người ta cũng dễ dàng thấy, hầu như ở mọi con phố Hà Nội vẫn luôn đông đúc các cụ có tuổi.

Thường thì lúc đấy là buổi sáng tinh mơ sớm, và cũng có thể là lúc bảng lảng chiều muộn, các cụ khoan thai vui tươi quây quần thành từng đám nhỏ, thong thả tập thể dục. Có cụ thoạt nhìn, nhất là mấy cụ ông, nếu phải so với tuổi thì thật quá trẻ. Đấy là do cái kiểu cách quần áo mà cụ đó đang mặc. Hoặc là sơ mi “chim cò”, hoặc quần “soóc” lửng ka-ki mầu khá chói. Chắc hẳn là do bọn con cái vô tâm khi mua biếu bố mẹ. Hoặc do tiện hơn, chúng nó mua không dùng thì các cụ dùng.

Nhìn mấy cụ bà đã ngoại thất tuần mà vẫn mặc bộ đồ thể thao “bo đì” rực rỡ đỏ, chợt thấy cuộc đời bỗng dưng thêm đôi phần nhẹ nhõm. Duỗi chân duỗi tay xong xuôi, vẫn theo từng nhóm, các cụ ngồi tán chuyện nổ như bắp rang bơ. Chủ đề các cụ ông thường là chuyện chính trường trong nước ngoài nước, còn các cụ bà loanh quanh chuyện chợ búa rau dưa. Rồi chuyện mấy đứa cháu học giỏi đáng yêu, rồi chuyện mấy đứa con dâu lười biếng “hơi bị” đáng ghét. Nhiều lúc tranh luận bí, các cụ cũng rút smartphone ra, vào mạng vừa lướt “phây” vừa tra “gúc gồ”. Ai dám bảo người cao tuổi ở ta là không thời thượng.

Nước Việt thời phong kiến có hẳn những tiêu chí cụ thể để định nghĩa thế nào là người già. Đầu tiên phải là chuyện niên kỷ. Sách “Đất lề quê thói” của học giả Nhất Thanh chép. “Lệ cứ đến sáu mươi tuổi là lên lão. Lệ này có từ đời Hồ Hán Thương (1401-1407). Từ sáu mươi trở lên được tha tiền thuế và các giao dịch sưu sai. Tới thời Pháp thuộc, lệ này vẫn duy trì không đổi. Lệnh nhà nước là vậy, nhưng có nhiều làng vì ít người sống lâu, riêng năm mươi nhăm tuổi đã lên lão.

Thơ cụ Nguyễn Khuyến có câu: “Ông chẳng hay ông tuổi đã già. Năm nhăm ông cũng lão đây mà. Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ. Có rượu thì ông chống gậy ra”. (Sách đã dẫn, NXB Hồng Đức 2015, trang 361). Có điều, trước khi “thật lão”, thì theo phong tục dân gian, bắt buộc phải trải qua hai lần “test” tuổi. “Bốn chín chưa qua, năm ba đã tới”. Đại loại phải vượt hai ngưỡng đó mới chính thức được coi là sơ thọ.

Từ xưa đến nay, tuổi già vốn là trọng sự, không phải ngẫu nhiên mà các giáo thuyết lớn đều sâu sắc luận bàn. Đức Phật lúc chưa ngộ đạo, vẫn là thái tử Tất Đạt Đa, tuy tuổi đang còn trẻ nhưng đã hơn một lần hoang mang siêu việt nhận thấy “già” là một trong bốn nỗi khổ rất lớn. “Sinh, lão, bệnh, tử”. Mặc dầu sau khi đại ngộ, Đức Phật đã thâm hậu giảng thuyết “tứ diệu đế” theo hướng chân thực giải thoát, nhưng đa phần tục nhân vẫn nông nổi vật chất hiểu khái niệm “lão” như một mặc cảm có phần buồn bã.

Nói chung, tới một ngày nào đó, bỗng run run tự nhìn ra mình đã có tuổi thì hầu hết đều cảm khái thở dài. Thi hào đời Đường, Lưu Vũ Tích có bài thơ kiệt tác “Kim nhật hoa tiền ẩm...” được dịch giả Tương Như ở ta phiên thành lục bát, đại khái là. “Hôm nay uống rượu bên hoa. Cạn dăm ba chén gọi là mua vui. Chỉ e hoa nói lên lời. Em không chịu nở cho người già nua”.

Người Việt nói chung, nhất là các làng còn giữ được nhiều tục cổ, luôn có nếp tôn kính người già (trọng xỉ). Hà Nội cách đây chưa quá lâu thì cũng như vậy thôi. Bởi đa phần các phố nghề cũ kỹ ở đất Kẻ Chợ, ví như Hàng Bạc, Lò Rèn... hoặc như nghề làm giò chả ở lấm tấm “xôi đỗ” khắp nội ngoại thành, thì cũng đều xuất xứ từ các vùng quê. Đó là chưa kể do tác động khách quan của những khúc quanh lịch sử, kiểu như sau hòa bình năm 54 ở miền bắc, có hẳn một lớp thị dân mới là con em của các gia đình công chức cán bộ gốc gác trong vùng Thanh - Nghệ, tử tế định cư ở Thủ Đô. Đương nhiên những người tinh hoa vốn đậm chất quê kiểng đó, kể cả khi đã thập thành ở phố, thì vẫn giữ nguyên những nét đẹp trong sinh hoạt của làng xã mình. Người cao tuổi hiển nhiên là được kính trọng.

Tất nhiên cũng có nhiều vùng thiên về trọng Khoa (đỗ đạt lớn) hay trọng Hoạn (quan chức cao). Có điều, ngày xưa chưa có chương trình đào tạo văn minh “tại chức”, nên hầu hết quan lại được chọn qua chính danh thi cử hủ lậu cồng kềnh tốn kém thời gian. Thường khi có đôi chút thành đạt thì tuổi cũng không còn trẻ. Vì thế ở những vùng đất nổi tiếng hiếu học, việc có các cụ “ba trong một”, vừa “xỉ” vừa “khoa” vừa “hoạn” là vô cùng đông đảo. Trường hợp như danh nhân Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến là không hề hiếm. Làng hoặc phường phố có việc hay soạn cỗ, đương nhiên các cụ như vậy sẽ trân trọng được xếp ngồi chiếu cao. Tính cụ Nguyễn thích đùa, nên trong bài “Tự trào” có câu “thủ lợn nhìn ông đà nhẵn mặt”. Phải là người già cực kỳ lịch duyệt lão thực mới dám “hỗn” như cụ.

Nước Việt có truyền thống tôn trọng người cao tuổi, phần lớn là nhờ những ảnh hưởng tích cực từ “chữ Hiếu” của Nho giáo. Bởi đã là người có tuổi thì hầu như tuyệt đối đều lên bậc ông bà cha mẹ. Các nhà Nho Việt hay trích lại lời Khổng Tử. “Đức Nhân là bản chất vốn có ở con người. Kính yêu cha mẹ là đức Nhân lớn nhất”. Và nữa, “Hiếu có ba hàm nghĩa. Đại Hiếu là tôn kính cha mẹ. Tiếp đến là không làm nhục cha mẹ. Cuối cùng mới là nuôi dưỡng cha mẹ”.

Chính vì thế mà ngay từ thời Lý (thế kỷ Mười), người Việt đã thiêng liêng lập nghi lễ “Trung Hiếu” trong hội thề Đông Cổ, ở ven hồ Tây - Hà Nội . Người xưa khẳng định, chỉ có thể tìm được tôi trung trong đám con hiếu. Một đứa con đã bất kính với người trên, đã không dám quên mình vì bố mẹ, thì nó rất khó hy sinh cho tổ quốc. Đâu phải ngẫu nhiên mà vị minh quân kiệt hiệt của nước Đại Việt là Trần Nhân Tông có thụy hiệu là “Hiếu Hoàng”. Thật dễ hiểu khi tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên, (nôm na gọi theo dân gian là thờ kính các cụ), luôn được các chính trị gia lớn người Việt trân trọng xây đắp. Và đến hôm nay đây, nghi lễ này vẫn được coi là quốc đạo.

Cổ nhân bảo, tuổi tác của cha mẹ không thể không biết. Một là để mừng, hai là để lo. Người già ở phố hay ở đâu cũng vậy, luôn cần một sự quan tâm chân thành của cả xã hội, đặc biệt là từ đám con cái đang văn minh dư dật. Đừng để bao giờ xảy ra cái cảnh, “trẻ thì cậy cha nhưng già thì cậy tủ”. Bởi Hiếu là Thiên lương, nó không phải là sự báo đáp. Nó giống hệt như niềm vui nỗi buồn của lòng nhân từ bố mẹ nuôi con lúc nhỏ.

Các chính sách chăm sóc người cao tuổi của Đảng và Nhà nước ta, luôn thấm đẫm một nỗi mừng, một nỗi lo như vậy.

NGUYỄN VIỆT HÀ

Chia sẻ