Khắc phục nhận thức và hành động lệch lạc trong thi hành kỷ luật Đảng

Thứ Tư, 26/07/2017, 15:59:53
 Font Size:     |        Print
 

Công an huyên Cô Tô (Quảng Ninh) học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII.

Từ sau Đại hội XII của Đảng đến nay, qua kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng (TCĐ) và đảng viên, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương đã xem xét, kết luận một số TCĐ và đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ cao cấp có khuyết điểm, vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật để giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Tuy nhiên, việc triển khai kiểm điểm, xem xét trách nhiệm và đề nghị thi hành kỷ luật đối với tập thể TCĐ và cá nhân đảng viên có khuyết điểm, vi phạm sau khi UBKT Trung ương thông báo kết luận kiểm tra, giải quyết tố cáo, đã bộc lộ một số tồn tại cần sớm khắc phục.

Trước hết, chi bộ nơi đảng viên có khuyết điểm, vi phạm không thấy được trách nhiệm trong việc góp ý, phê bình để đảng viên tự giác nhận rõ khuyết điểm, vi phạm, quyết tâm sửa chữa, khắc phục; tự nhận hình thức kỷ luật tương xứng với tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, mà còn có biểu hiện bênh vực: chỉ nêu ưu điểm, thành tích, không chỉ rõ khuyết điểm, vi phạm hoặc cho rằng kết luận của UBKT Trung ương chưa thật khách quan, chưa chính xác, biểu thị việc bỏ phiếu đề nghị không thi hành kỷ luật hoặc thi hành kỷ luật với kết quả phiếu không tập trung (không có hình thức kỷ luật nào có tỷ lệ số phiếu quá bán theo quy định) đối với đảng viên vi phạm.

Bên cạnh đó, đảng bộ nơi đảng viên có khuyết điểm, vi phạm sinh hoạt cũng có biểu hiện phát biểu góp ý xuôi chiều, chỉ nêu ưu điểm, kết quả, không nêu và phân tích kỹ trách nhiệm về thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm của đảng viên, chưa thấy được trách nhiệm của cấp ủy trong quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên có khuyết điểm, vi phạm, rút ra bài học chung để khắc phục, chấn chỉnh trong thời gian tới. Từ đó, một số cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ cấp ủy cho rằng kết luận đối với đảng viên có khuyết điểm, vi phạm là quá nặng, chưa đến mức phải thi hành kỷ luật và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, không thi hành kỷ luật hoặc nếu có thì kỷ luật bằng hình thức thấp nhất; một số chỉ đề nghị cho "kiểm điểm, rút kinh nghiệm sâu sắc" hoặc "phê bình nghiêm khắc"; số khác lại không thể hiện chính kiến, chỉ phát biểu chung chung hoặc nhất trí với ý kiến đã phát biểu trước đó.

Đối với tập thể ban cán sự đảng thì hầu hết ý kiến phát biểu cũng chủ yếu nêu thành tích, kết quả đạt được, ít đề cập khuyết điểm, vi phạm của tập thể ban cán sự đảng và cá nhân đảng viên có vi phạm, thậm chí có ý kiến cho rằng khuyết điểm, vi phạm của tập thể không phải cố ý, chưa có hệ thống, chủ yếu do khách quan hoặc mong muốn cơ quan, đơn vị phát triển hoặc vì sự nghiệp chung; chưa thấy được vai trò trách nhiệm của tập thể trong việc buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; chưa đi sâu phân tích, chỉ rõ khuyết điểm, vi phạm của cá nhân đảng viên, trách nhiệm của cá nhân gắn với trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm của tập thể ban cán sự đảng với trách nhiệm của cá nhân thành viên ban cán sự đảng. Do vậy, ảnh hưởng không nhỏ tới việc xác định rõ trách nhiệm của tập thể và của cá nhân, việc tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm phù hợp nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và bỏ phiếu đề nghị hình thức kỷ luật của tập thể và cá nhân tương xứng.

Đáng lưu ý, hầu hết cá nhân đảng viên có khuyết điểm, vi phạm trong quá trình kiểm tra và kiểm điểm theo kết luận của UBKT Trung ương chưa thấy hết được thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm của mình, vẫn quanh co, chối tội, thường đổ lỗi cho khách quan, cho người khác, cho tập thể; chưa tự giác nhận khuyết điểm và đề ra nội dung, biện pháp khắc phục sửa chữa. Nhiều trường hợp không thừa nhận vi phạm mà chỉ cho là có thiếu sót, khuyết điểm và đề nghị nhận hình thức kiểm điểm sâu sắc rút kinh nghiệm hoặc kiểm điểm phê bình nghiêm túc, nếu có nhận cũng chỉ nhận hình thức kỷ luật thấp nhất là khiển trách. Chỉ khi đến cấp xem xét, quyết định thi hành kỷ luật là UBKT Trung ương, qua góp ý thẳng thắn, chân tình, đấu tranh phê bình cùng với những bằng chứng đưa ra thì mới chuyển biến về nhận thức, tự nhận hình thức kỷ luật cao hơn hoặc chỉ nói chung chung là sẵn sàng nhận bất cứ hình thức kỷ luật nào của UBKT Trung ương hoặc của cấp trên.

Nhận thức chưa đúng về kỷ luật và thi hành kỷ luật trong Đảng nên thực hiện chưa đúng, chưa hết trách nhiệm là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nhận thức và hành động lệch lạc nói trên. Một số đảng viên, cấp ủy viên, ủy viên ban cán sự còn nhận thức đơn giản, cho là cấp mình (chi bộ, đảng bộ, ban cán sự đảng) chỉ là cấp đề nghị nên chưa nêu cao vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền của đảng viên, TCĐ trong đề nghị thi hành kỷ luật; nếu đề nghị thi hành kỷ luật đúng mức đối với đồng chí mình, tập thể mình thì sợ liên lụy đến trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu, đến thành tích của tập thể. Một số đảng viên, cấp ủy viên còn có biểu hiện nể nang, né tránh, ngại đấu tranh, va chạm, góp ý phê bình có mức độ vì đảng viên bị đề nghị thi hành kỷ luật đã từng công tác, từng là cấp trên của mình, đã giúp đỡ mình trước đây. Tập thể TCĐ, một số cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên chưa thấy hết được trách nhiệm của mình trước đảng, trước nhân dân về khuyết điểm, vi phạm của TCĐ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm, nhất là đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, chưa thấy hết mức độ, tính chất nghiêm trọng của khuyết điểm, vi phạm đang làm mất niềm tin của nhân dân đối với TCĐ, cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm, gây bức xúc trong xã hội.

Đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn là cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm chấn chỉnh, khắc phục kịp thời hạn chế, yếu kém để việc đề nghị thi hành kỷ luật, thi hành kỷ luật trong Đảng bảo đảm đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền và theo đúng tinh thần Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết T.Ư 4 khóa XI và khóa XII về xây dựng Đảng. Đó là tăng cường tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng nói chung, đề nghị thi hành kỷ luật và quyết định thi hành kỷ luật trong Đảng nói riêng bằng các hình thức, biện pháp thích hợp để cấp ủy, TCĐ, cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên, ủy viên ban cán sự đảng nhận thức đúng, đầy đủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tác dụng của kỷ luật đảng, từ đó thực hiện đúng trách nhiệm, quyền hạn và chấp hành nghiêm túc khi có kết luận của UBKT hoặc của cấp ủy cấp trên về kiểm điểm, xem xét trách nhiệm đề nghị thi hành kỷ luật đối với khuyết điểm, vi phạm của TCĐ và cán bộ, đảng viên cấp dưới.

Đồng thời chi ủy, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ban cán sự đảng và cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên nắm vững quy trình, quy định của Đảng, của cấp mình để thực hiện đúng trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức, cá nhân mình, kiểm điểm, xem xét trách nhiệm và đề nghị thi hành kỷ luật của tập thể, cá nhân đảng viên, cán bộ có khuyết điểm, vi phạm đúng tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm. Người đứng đầu nêu cao vai trò trách nhiệm để điều hành, gợi mở cho cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên, thành viên ban cán sự kiểm điểm, đấu tranh phê bình, góp ý đối với tập thể tổ chức đảng, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm một cách công tâm, khách quan, thận trọng, dân chủ, đúng mức để việc kiểm điểm, đề nghị thi hành kỷ luật đúng quy định của Đảng, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Và một giải pháp không thể thiếu là UBKT Trung ương, UBKT cấp trên tăng cường giám sát, đôn đốc, nhắc nhở, chấn chỉnh để TCĐ, đảng viên, cấp ủy viên là thành viên của từng TCĐ thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm trong tổ chức kiểm điểm, xem xét trách nhiệm của TCĐ, đảng viên có khuyết điểm vi phạm.

Một số đảng viên, cấp ủy viên còn có biểu hiện nể nang, né tránh, ngại đấu tranh, va chạm, góp ý phê bình có mức độ vì đảng viên bị đề nghị thi hành kỷ luật đã từng công tác, từng là cấp trên của mình, đã giúp đỡ mình trước đây.

CAO VĂN THỐNG

Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Chia sẻ