Phòng chống doping của Thể thao Việt Nam

Quyết tâm phải đi kèm hành động

Thứ Sáu, 08/03/2019, 13:52:00
 Font Size:     |        Print
 

Cả ngành thể thao vừa gặp cú sốc lớn khi nhà vô địch thế giới, đương kim á quân Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD) môn cử tạ Trịnh Văn Vinh bị phát hiện dương tính với chất bị cấm. Tài năng 25 tuổi này đang đối diện với án phạt cấm thi đấu ! Quan trọng hơn, hình ảnh cùng uy tín của Thể thao Việt Nam (TTVN) cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Dù có thể chỉ là một trường hợp cụ thể, song ca sử dụng chất cấm (doping) này đã phơi bày lỗ hổng lớn cùng sự yếu kém kéo dài trong công tác phòng, chống của ngành thể thao.

1 Ngay từ năm 2004, sau “nỗi đau trên sân nhà” với việc bốn tuyển thủ “dính doping” tại SEA Games 22, được sự ủy nhiệm của Chính phủ, ngành TTVN đã ký vào “Tuyên bố Copenhagen” để Việt Nam trở thành quốc gia, vùng lãnh thổ thứ 106 chính thức nhập cuộc toàn diện, trong đó cam kết tuyệt đối nói không và tham gia đầy đủ vào công cuộc phòng, chống doping. Nghĩa là, câu chuyện này đã được nâng lên thành vấn đề ở tầm quốc gia, chứ không chỉ còn là chuyện của riêng lĩnh vực thể thao.

Song, thực tế, cho đến tận bây giờ, công cuộc ấy vẫn chỉ được thể hiện ở những lời tuyên bố nặng tính hình thức. Bất chấp mọi kỳ đại hội thể thao đều “vang rền” tiếng “hô khẩu hiệu”, đến hiện tại đã có cả thảy 13 trường hợp “dính doping”, trong đó đáng buồn nhất là trường hợp của VĐV thể dục dụng cụ Đỗ Ngân Thương tại Olympic 2008 và lực sĩ cử tạ Hoàng Anh Tuấn ngay trước thềm ASIAD 2010. Và giờ là Trịnh Văn Vinh.

Điểm cốt lõi là đây: Thực chất, chúng ta không có bất cứ hành động phòng, chống đúng nghĩa nào cả. Đơn giản và thiết thực nhất như việc tuyên truyền giáo dục tinh thần “nói không với doping” cũng như thông tin danh mục các chất bị cấm tới các VĐV chỉ được tiến hành sơ sài mỗi khi có sự kiện, để rồi “trôi tuột” luôn qua đầu VĐV. Qua khảo sát của một cơ quan chuyên môn của chính ngành thể thao, có ít nhất 90% số tuyển thủ quốc gia không nắm được những chất bị cấm cơ bản nhất của ngay môn mình.

2 Trước thềm SEA Games 29, TTVN đã tiến hành lấy 35 mẫu thử doping gửi sang cho Ban Tổ chức - con số tối thiểu theo yêu cầu (và nếu không là quy định bắt buộc, chưa chắc ngành thể thao đã làm). Số lượng này chỉ chiếm 7% tổng số tuyển thủ của Đoàn TTVN tham dự Đại hội. Trong khi đó, như thống kê, ở những nước như Ma-lai-xi-a, Thái-lan hay Xin-ga-po, có khoảng 30-50% số VĐV của họ được “kiểm soát” trước mỗi kỳ SEA Games.

Con số 35 mẫu đã là quá ít, song chính cách lấy 35 mẫu thử này của ngành thể thao cũng đầy bất cập. Đội tuyển (ĐT) của môn vốn thuộc nhóm nguy cơ cao là xe đạp không lấy mẫu. ĐT điền kinh có tới 50 tuyển thủ, cũng chỉ lấy ba mẫu. Điều đáng nói, danh sách VĐV phải kiểm tra được chỉ định sẵn, chứ không theo phương thức ngẫu nhiên. Điển hình như điền kinh, cả ba VĐV đều đang tập huấn tại TP Hồ Chí Minh. Và có VĐV từng “dính doping” lại không bị lấy mẫu, đáng lẽ phải bị kiểm soát chặt chẽ. Với số lượng và cách thức lấy mẫu như thế trước một sự kiện quốc tế lớn như SEA Games, rõ ràng, ngành thể thao sẽ không thể kiểm soát được nội tình cùng những nguy cơ, kể cả với các tuyển thủ hàng đầu thuộc diện gánh vác nhiệm vụ tranh chấp huy chương.

3 Nỗi ám ảnh với TTVN ngày càng đè nặng bởi các giải quốc tế, các Liên đoàn - Hiệp hội thể thao quốc tế theo môn giờ đây còn đẩy mạnh kiểm tra ngẫu nhiên, kiểm tra ngoài thi đấu, kiểm tra đột xuất. Trường hợp dính doping của tuyển thủ điền kinh Vũ Thị Ly tại Đại hội Thể thao bãi biển châu Á 2016 (vì dùng thuốc cảm sốt do bác sĩ kê mà không kịp cập nhật danh mục chất bị cấm) hãy còn nóng hổi. Và chính Trịnh Văn Vinh cũng “dính chàm” qua một cuộc lấy mẫu đột xuất của Liên đoàn Cử tạ thế giới ngay tại Việt Nam, trước thềm Đại hội Hiện tại, bài toán phòng, chống doping cho các tuyển thủ đặt cả vào các y sĩ, bác sĩ theo đội, và cũng chỉ gói gọn trong thời gian tập luyện “trên tuyển”. Trong khi đó, như ở Trung tâm Huấn luyện Thể thao quốc gia Hà Nội, chỉ có hơn chục cán bộ y tế phải chăm lo cho gần 1.000 tuyển thủ, đủ biết khó khăn, thiếu hụt như thế nào. Đội ngũ này luôn cố gắng hết sức mà vẫn phải lo lắng vì không thể kiểm soát được hết.

Mọi hậu quả rốt cuộc lại quy về cho điều kiện khách quan, khó khăn ràng buộc, nào thiếu kinh phí, thiếu phương tiện… mà lý do được viện dẫn nhiều nhất có lẽ vẫn là vì TTVN chưa có phòng thí nghiệm kiểm tra doping. Song, gốc rễ của nó vẫn xuất phát từ chính nhận thức hời hợt, sự chủ quan của chính các nhà quản lý cùng sự thiếu đầu tư, hay nói chính xác hơn là không đầu tư gì cho mảng trọng yếu này.

Sau trường hợp Trịnh Văn Vinh, cũng như những lần trước, lại vang lên những lời cảnh báo và những tiếng hô quyết tâm. Song, vấn đề doping tại SEA Games 29 với TTVN suy cho cùng, vẫn chỉ là “may nhờ rủi chịu”.

Hiện tại TTVN không thể kiểm tra chất cấm tại chỗ, dù có một bệnh viện chuyên ngành thể thao cùng một Trung tâm Phòng chống Doping. Sau khi lấy mẫu, phải thuê một Trung tâm quốc tế kiểm tra với mức phí 200-300 USD/mẫu.


ĐẶNG VIỆT CƯỜNG