Kỷ niệm 42 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Những người đào địa đạo trên dãy An Hô

Thứ Sáu, 21/04/2017, 09:44:16
 Font Size:     |        Print
 

Trong niềm vui gặp mặt, các cựu chiến binh mong mỏi An Hô sớm được công nhận là di tích lịch sử.
 Font Size:     |  

Biết bao chuyện buồn vui khi nhớ về những ngày tháng cưa gỗ, đào đá xây dựng căn cứ địa đạo trên dãy An Hô (*). Có những giây phút không bao giờ quên như khi đào được lỗ thủng nối liền hai hướng của đường hầm, chiến sĩ hai bên gặp nhau, niềm vui vỡ òa trong lòng núi.

Những hoài niệm lớn dần lên theo năm tháng khiến những người lính chúng tôi quyết tâm dẹp sang một bên bao vất vả khó khăn đời thường để tìm về vùng ký ức, nơi chúng tôi đã sát cánh chiến đấu và công tác những năm chống Mỹ, cứu nước. Một vài người trong chúng tôi khi đi tiền trạm cũng đã có lần tìm đến khu vực Tà Lương (huyện A Lưới, Thừa Thiên - Huế) với hy vọng từ đây sẽ tìm thấy dãy An Hô, đơn vị đã giành lại và chốt giữ từ tháng 4-1973 đến tháng 3-1974, nhưng tất cả đều vô vọng.

Trở lại An Hô, một người dân ở đây cho hay, ở một ngọn núi giáp sông Bồ có căn hầm lớn, chúng tôi nghĩ ngay đến khu địa đạo mà C17 công binh trực thuộc Trung đoàn 1, Sư đoàn 324 cùng Tiểu đoàn 1 bộ binh đào ngày ấy. Chúng tôi hăm hở dưới sự dẫn đường của hai đồng chí công an viên xã Hương Nguyên. Khi đến một đỉnh núi, vài anh em nhận ngay ra đó là mỏm tám và căn hầm của mình. Ai cũng sung sướng khi tìm thấy “căn nhà” của mình. Vẫn còn nguyên đó hàng trăm mét giao thông hào, những ụ súng, những căn hầm.

Đứng trước cửa căn địa đạo đã bị sụt lún theo thời gian, kỷ niệm của những ngày tháng gian khổ, vất vả, vác gỗ, nổ mìn lại hiện về, cựu chiến binh (CCB) Trần Văn Hùng, nguyên Tiểu đội trưởng C2 kể lại: “Tháng 8-1973, đã bước sang tháng thứ hai mùa mưa ở rừng Thừa Thiên. Mưa suốt ngày đêm không ngớt. Tôi cùng anh em trong Đại đội 2 vẫn đi cưa gỗ chống địa đạo do C17 của trung đoàn đào tại sườn phía tây mỏm 1 dãy An Hô. Định mức mỗi người một ngày phải nộp 10 khúc gỗ dài 2,2 m với đường kính từ 10 đến 15 cm. Chúng tôi phải đi rất xa mới cưa được gỗ, dưới trời mưa, đường trơn trượt. Tìm cây đã khó, khi cắt được cây, cưa khúc đạt tiêu chuẩn và vác được về địa đạo cũng vô cùng vất vả. Ngày nào cũng thế, quần áo liên tục ẩm ướt, vai ai cũng trầy sưng đau nhức...

Còn những dòng nhật ký của CCB Nguyễn Đình Ích, nguyên chiến sĩ C4 hỏa lực, cụ thể đến từng buổi, từng ngày như: (năm 1973) “Ngày 2-8, tôi được gọi về nhận nhiệm vụ mới, tưởng gì hóa ra sang đào địa đạo cùng C17 công binh... Ngày 4-8 bắt đầu đi chặt gỗ... Ngày 2-9 về khẩu đội ăn mừng Quốc khánh... Ngày 3-9 tiếp tục sang địa đạo, hôm nay không phải chặt gỗ mà được chuyển vào làm trong đường hầm, tuy nguy hiểm nhưng thích thú vì công việc mới lạ như công nhân khai thác mỏ than vậy, cũng búa, choòng, xe cút kít, công việc trong hầm hối hả như một công trường... Ngày 5-9, hôm nay trong ca làm việc xảy ra một tai nạn, đồng chí Bích đơn vị tôi bị đá sập suýt chết...”.

Tiếp mạch của câu chuyện, CCB Đỗ Văn Thuật, nguyên chiến sĩ, y tá C3 cho biết: “Ở C3 một thời gian, tôi được điều về Phẫu của Tiểu đoàn 1. Trong thời gian này tôi có nhiều ngày phục vụ các chiến sĩ của C17 và lực lượng phối thuộc để xử lý kịp thời thương vong xảy ra trong quá trình đào địa đạo. Tôi cũng tận mắt chứng kiến tai nạn xảy ra ngày 5-9-1973. Một đồng chí bị thương nhưng được sơ cứu kịp thời. Hôm nay đứng đây trước một chứng tích bị lãng quên hơn 40 năm, cảnh tượng đó như hiện lên trước mắt, thật xót xa”...

Để nói về phòng tuyến An Hô và căn địa đạo trên mỏm 1 thì chừng ấy là chưa đủ. Trước một di tích lịch sử sắp trở thành phế tích, sau chuyến về lại xã Hương Nguyên, A Lưới tháng 3-2017 vừa qua, chúng tôi chia nhau đi tìm tài liệu liên quan đến căn địa đạo, giúp địa phương làm hồ sơ trình Huyện ủy A Lưới để căn địa đạo này sớm được công nhận là Di tích Lịch sử - Cách mạng. Tôi, nguyên chiến sĩ C2; Trần Văn Hùng, Tiểu đội trưởng C2; Đỗ Văn Thuật, C3 bộ binh; Nguyễn Đình Ích, C4 hỏa lực đã may mắn gặp được chính tác giả của căn địa đạo này, anh Nguyễn Lễ, kỹ sư mỏ địa chất, nguyên Trung đội phó C17 công binh cùng Trung đoàn 1 với chúng tôi.

May mắn này chắc có phần phù hộ của những đồng đội đã ngã xuống An Hô năm xưa. Anh Lễ kể: “Thời gian trôi rất nhanh, thấm thoát đã 42 năm từ ngày giải phóng Trị - Thiên - Huế cũng như giải phóng hoàn toàn miền Nam. Tôi không quên những năm gian khổ và ác liệt ấy. Hồi đó năm 1972, sau chiến dịch 81 ngày đêm ở Quảng Trị, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng đã nhận định cuộc chiến tranh sẽ còn lâu dài và gian khổ. Muốn bảo đảm thắng lợi ta phải củng cố mọi mặt về quân sự, chính trị, đặc biệt là công tác hậu cần. Theo tinh thần ấy C17 công binh trực thuộc Trung đoàn 1 nhận nhiệm vụ tạo dựng cơ sở vật chất cho chiến dịch, trong đó có việc xây dựng một địa đạo tại khu vực phòng tuyến An Hô.

Ngày 3-4-1973, C2 bộ binh cùng C4 hỏa lực của Trung đoàn nổ súng chiếm lại mỏm 1 An Hô và giải phóng toàn bộ tám mỏm của dãy núi này sau gần hai tuần giằng co với địch từng mét hào, từng căn hầm. Trong khi C2 triển khai củng cố công sự, chốt giữ thì chúng tôi bắt đầu khảo sát thực địa, lúc đó khoảng tháng 4-1973. Đến tháng 6-1973, khi đã hội đủ các yếu tố về địa hình, địa vật, cấu tạo địa chất cộng với các yếu tố về thời tiết trong khu vực, chúng tôi thi công.

Địa đạo được đào từ hai cửa, theo hình chữ U và sẽ gặp nhau trong lòng núi. Do khối lượng công việc rất lớn, nếu chỉ C17 sẽ không thể hoàn thành được nên Trung đoàn đã cho các đơn vị của K1 và K2 bộ binh phối thuộc với chúng tôi. C17 giữ vai trò chỉ huy công việc, đục lỗ nổ mìn và thường xuyên đo vẽ từng mét để đào sao cho đúng kích thước, đúng hướng như thiết kế. Chúng tôi luôn quán triệt với các lực lượng tham gia là phải vừa bảo đảm đầy đủ phương tiện, dụng cụ tại chỗ, vừa phải bảo đảm bí mật, không để địch phát hiện.

Chúng tôi cùng các đơn vị phối thuộc đã thay nhau làm việc ba ca liên tục để hoàn thành theo đúng dự kiến. Tôi còn nhớ những câu chuyện rất cảm động trong quá trình thi công, là khi hai hướng đường hầm gặp nhau trong lòng núi. Rất khó khăn bởi trang thiết bị thi công thiếu thốn, nhất là các thiết bị kỹ thuật. Tôi chỉ lo anh thì đào đi lên, anh thì đi xuống sẽ không gặp được nhau thật uổng công và không hoàn thành nhiệm vụ. Rất may, đến giai đoạn cuối, đo đạc ở bản đồ và trên thực địa khá khớp nhau. Vui biết bao khi bên này đã nghe thấy tiếng búa choòng, cuốc xẻng từ hướng bên kia. Cuối cùng thì một lỗ thủng đã nối liền hai hướng của đường hầm, chiến sĩ hai bên gặp nhau, niềm vui vỡ òa trong lòng núi…

Phải đến đầu năm 1974, địa đạo được hoàn thành. Địa đạo có chiều rộng 2 m, chiều cao 2 m và chiều dài gần 100 m hình chữ U, hai cửa, bên trong có hai kho chứa vũ khí, lương thực, quân nhu và một diện tích đủ cho một Ban Chỉ huy Trung đoàn hay Sư đoàn họp bàn và chỉ huy chiến dịch...

Địa đạo này đã giúp Bộ Chỉ huy của Trung đoàn 1, Sư đoàn 324 trú quân để chỉ huy các trận đánh và các chiến dịch. Đồng thời dự trữ vũ khí đạn dược, lương thực, quân nhu cho phòng tuyến An Hô, góp phần giữ vững vùng giải phóng, tạo đà cho chiến dịch giải phóng TP Huế và chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước mùa Xuân 1975...

Còn chúng tôi, những người đã cống hiến cả tuổi thanh xuân, và nhiều đồng đội đã ngã xuống để làm nên địa đạo này. Vậy mà mãi đến hôm nay còn chưa được biết đến, chưa có tên trong hệ thống Di tích Lịch sử - Cách mạng và hệ thống các địa đạo trong bản đồ du lịch của Thừa Thiên - Huế… Đau đáu này mong đến một ngày được gỡ bỏ - An Hô sẽ được công nhận giá trị lịch sử cách mạng của mình!

-----------------------------------

(*) Dãy An Hô là tên gọi trong bản đồ quân sự của ta trước 1975, nay thuộc xã Hương Nguyên, huyện A Lưới, Thừa Thiên - Huế.

NGỤY HOÀNG SƠN