Tạo cơ chế thu hút nhân lực chất lượng cao

Thứ Sáu, 02/03/2018, 14:57:44
 Font Size:     |        Print
 

Cần có những chính sách thông thoáng hơn về điều kiện làm việc đối với nhân lực chất lượng cao để họ có thể phát huy năng lực cá nhân. (Trong ảnh: Du học sinh Việt Nam vui Tết tại Lễ hội đón Tết mừng Xuân Mậu Tuất tại thủ đô Budapest - Hungary). Ảnh: Hiệp hội Người Việt Nam tại Hungary.

Mỗi năm, có hàng chục nghìn học sinh Việt Nam tìm đến hơn 50 quốc gia trên thế giới để du học. Cho tới năm 2016, theo Bộ Giáo dục và Ðào tạo (GD-ÐT), đã có khoảng 130.000 công dân Việt Nam đang học tập tại nước ngoài. Thế nhưng trong số những nhân lực chất lượng cao này, có bao nhiêu người thật sự mong muốn trở về Việt Nam làm việc?

Nhiều ưu đãi “vượt khung”

Những băn khoăn gần đây, từ diễn đàn Quốc hội, các cuộc họp chuyên ngành, cho đến trên các phương tiện truyền thông, đều cho thấy mối lo ngại chung về tình trạng “chảy máu chất xám”. Những ngôi sao sáng chói, tài năng của người Việt thời kỳ Ðổi mới như: Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu, nghệ sĩ piano Ðặng Thái Sơn, hay Giáo sư vật lý Ðàm Thanh Sơn... đều thành danh ở nước ngoài.

Việc mất đi nguồn nhân lực có chất lượng là một trong những vấn đề nghiêm trọng của những nước đang phát triển như chúng ta. Trong thời kỳ đất nước đang cần chuyển mình mạnh mẽ để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và vươn lên thành “con hổ châu Á” mới như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc kỳ vọng, việc có thêm nhân tài ở nhiều lĩnh vực khác nhau là yêu cầu tiên quyết.

Tuy chưa có con số thống kê cụ thể về số lượng du học sinh Việt Nam quay về đất nước sau quá trình tu nghiệp tại nước ngoài, nhưng ghi nhận tại một số quốc gia có số du học sinh Việt Nam học tập cao, thì tỷ lệ trở về thấp hơn nhiều so với các quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Hàn Quốc. Trước thực trạng đó, đầu tháng 7-2016, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có văn bản chỉ đạo Bộ Giáo dục và Ðào tạo chủ trì, phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, ngành liên quan tiến hành nghiên cứu tổng thể và đề xuất các cơ chế, giải pháp, chính sách thu hút, sử dụng có hiệu quả học sinh, sinh viên học tập ở nước ngoài sau tốt nghiệp đóng góp xây dựng đất nước.

Trên thực tế, Việt Nam đã và đang có nhiều chính sách đãi ngộ để thu hút chất xám phát triển đất nước. Từ khi bắt đầu thời kỳ Ðổi mới, Ðảng và Nhà nước luôn kêu gọi trí thức người Việt chung tay xây dựng Tổ quốc. Năm 2008, Trung ương Ðảng ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước khẳng định, một bộ phận của trí thức Việt Nam là những trí thức Việt kiều luôn hướng về quê hương đất nước. Ngay trong năm 2017 mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 140/2017/NÐ-CP thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ. Ở một số địa phương thậm chí còn có những ưu đãi “vượt khung” cho người tài, như Ðà Nẵng mới đây thông qua nghị quyết hỗ trợ tối đa đến 280 lần mức lương cơ sở (khoảng 340 triệu đồng) cho nhân tài quyết định đến đây làm việc lâu dài.

Từ tư duy đến hành động

Nhưng vì sao những chính sách đó chưa đáp ứng được kỳ vọng? Nhìn vào bài học của những quốc gia đi trước, điển hình là Xin-ga-po và Trung Quốc, có thể nhận thấy có bốn lý do căn bản của thực trạng này, và từ đó cũng có thể nhìn ra những giải pháp tương ứng.

Thứ nhất, chúng ta chưa tạo ra được một môi trường làm việc tốt và phù hợp với nhân lực chất lượng cao. Cơ chế làm việc cứng nhắc, phương pháp đánh giá chủ quan (dựa trên bản tự đánh giá, quan sát của lãnh đạo, tập thể,…), quy trình tuyển chọn không công bằng… là những rào cản lớn nhất để thu hút người giỏi, đặc biệt là trong khu vực nhà nước. Trong việc ứng xử với nhân tài, việc bảo đảm một môi trường khách quan, công bằng là vô cùng quan trọng. Chúng ta không cần và không nên đưa ra những quy định cứng nhắc, không liên quan đến công việc chuyên môn vào trong quy trình tuyển dụng, như một số địa phương yêu cầu cán bộ ứng tuyển phải có hộ khẩu thường trú như vừa qua. Ở Trung Quốc, chính quyền đã thực thi những chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với những nhà khoa học hàng đầu gốc Hoa, căn cứ vào năng lực và trình độ để chọn lựa người nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ mà không quá cứng nhắc về quy định, tiêu chuẩn. Những chính sách trên đã mang lại thành công cho quốc gia này, khi trong năm 2016 con số du học sinh về nước đạt mức kỷ lục 430 nghìn người, với tỷ lệ quay về là 82%. 10 năm trước, tỷ lệ du học sinh Trung Quốc quay về chỉ đạt mức 50%.

Trong khi đó, quốc gia như Xin-ga-po thậm chí còn tuyển dụng người nước ngoài làm những công việc chuyên môn cho cơ quan nhà nước.

Thứ hai, đi cùng với môi trường làm việc là chế độ đãi ngộ. Trong thời đại toàn cầu hóa, một lao động có chuyên môn hoàn toàn đủ khả năng đi đến một đất nước khác có chế độ đãi ngộ tốt hơn một cách dễ dàng. Xin-ga-po và Trung Quốc đều thu hút người tài bằng cách trả rất nhiều tiền để có sự phục vụ của họ. Ngay như Thủ tướng Lý Hiển Long cũng là một trong những nhà lãnh đạo có mức lương cao nhất thế giới, gần hai triệu đô-la Mỹ (khoảng 45 tỷ đồng) một năm. Việt Nam, vẫn còn là một nước có thu nhập trung bình thấp, tất nhiên không thể cạnh tranh với các cường quốc về lương. Tuy vậy, thu nhập dành cho người tài cũng phải bù đắp một phần nào đó cho năng lực của họ, chứ không thể “cá mè một lứa” như chính sách đãi ngộ hiện tại.

Thứ ba, cần phải có những chính sách thông thoáng hơn về điều kiện làm việc, không nhất thiết phải gắn người tài vào “biên chế” và trói buộc họ vào một công việc cố định. Ðiều này liên hệ mật thiết với lý do đầu tiên về môi trường làm việc, buộc bên tuyển dụng (cụ thể là nhà nước) phải có những phương thức đánh giá chất lượng công việc một cách phù hợp hơn với tình hình mới.

Thứ tư, chúng ta chưa có chính sách sử dụng người tài một cách toàn diện. Nếu chỉ thu hút được nhân tài, chúng ta mới chỉ hoàn thành được một vế. Thực tế nhức nhối hiện nay là cố gắng thu hút nhân tài, nhưng lại không dành sự quan tâm, tạo điều kiện để họ được làm những công việc đúng với khả năng và có điều kiện phát triển. Cách làm như vậy không khác gì bỏ tiền tỷ để mua những con “voi trắng” mà không tạo thêm được giá trị nào cho xã hội.

Thứ năm, trong thời đại toàn cầu hóa, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận rằng không phải lúc nào “người tài” trở về cũng là điều tốt. Có những người chỉ phát huy được khả năng thật sự của mình khi làm việc trong môi trường ở các nước phát triển, và qua đó đóng góp được nhiều hơn cho nhân loại nói chung. Nhà nước nói riêng và người Việt nói chung cần tự hào về họ, và tin vào lựa chọn đóng góp của họ, thay vì mong muốn họ về nước bằng mọi giá. Những nhà khoa học, nghệ sĩ gốc Việt hàng đầu thế giới đang định cư ở nước ngoài có thể coi như những ngọn hải đăng, dẫn dắt các thế hệ sinh viên Việt Nam bước ra thế giới.

Thực hiện được những thay đổi trên, cả về mặt hành động lẫn tư duy, tin tưởng rằng sẽ có thêm nhiều thế hệ nhân tài quay về cội nguồn để thành tâm phụng sự cho sự phát triển của đất nước.

Nguyễn Khắc Giang