Nỗi lo thiếu điện

BÀI & ẢNH: ĐINH THÁI

Chủ nhật, 09/06/2019 - 02:43 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Công nhân Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh lắp đặt hệ thống điện mặt trời tại khu vực dân cư ở quận 2.

TP Hồ Chí Minh nói riêng và nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước nói chung vừa trải qua những đợt nắng nóng khiến mức tiêu thụ điện cũng đạt những con số ở mức kỷ lục. Trong khi nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt, sản xuất ngày càng tăng thì các thống kê, tiềm năng về nguồn cung cho thấy sẽ có những thiếu hụt trong những năm tới.

Những con số thống kê đáng lo ngại

Theo thống kê của Tổng công ty (TCT) Điện lực TP Hồ Chí Minh về tổng lượng điện năng tiêu thụ trong các tháng cao điểm như tháng 3-2019, sản lượng tiêu thụ đạt 2,38 tỷ kWh, tăng hơn 44% so tháng 2 (1,65 tỷ kWh), còn thống kê của tháng 4 là 2,5 tỷ kWh. Đây là mức tiêu thụ cao nhất trong 10 năm qua tính từ 2009 đến nay.

Còn theo TCT Điện lực miền nam, đơn vị đang vận hành, quản lý hệ thống điện tại 21 tỉnh, thành phố phía nam (chiếm 1/3 số tỉnh, thành phố của cả nước), trong tháng 5-2019, thống kê về mức tiêu thụ cũng tăng gần 10% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, tại nhiều địa phương, điện dùng trong công nghiệp, sản xuất chiếm tỷ trọng đến 70%. Khi các nguồn cung cấp điện truyền thống (than, khí, thủy điện) tại chỗ đã vận hành hết công suất, ngành điện miền nam vẫn không đủ nhu cầu cung cấp mà phải “cầu cứu” thêm nguồn từ miền bắc và miền trung thông qua đường dây 500 kW (khoảng 10% tổng sản lượng).

Nhu cầu sử dụng điện ngày một tăng cao cũng được Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia cảnh báo, theo đó, dù chưa vào những tháng cao điểm mùa hè nhưng trong ngày nóng nhất của tháng 5 vừa qua, mức tiêu thụ điện toàn hệ thống lại đạt đỉnh mới là 755 triệu kWh, phá kỷ lục của mức đỉnh năm 2018 là 725 triệu kWh.

Trong khi mức tiêu thụ điện năng đang ngày càng lớn, nhu cầu sử dụng điện cho sinh hoạt, sản xuất ngày càng tăng thì các nguồn cung đang dần chững lại. Một số dự án (DA) sản xuất điện nằm trong quy hoạch lại chưa thể triển khai. Ông Lê Văn Lực, Phó Cục trưởng Điện lực và Năng lượng tái tạo, Bộ Công thương cho biết, đến nay, các nguồn cung cấp điện theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020, có xét đến năm 2030 (đã điều chỉnh theo Quyết định 428/QĐ-TTg, ngày 18-3-2016, gọi tắt là Quy hoạch điện VII điều chỉnh) hướng đến một trong những mục tiêu là cung cấp đủ điện với chất lượng ngày càng cao cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đều đã có những thay đổi nhất định.

Cụ thể, đối với nguồn cung từ thủy điện, hiện cơ bản đã khai thác hết các nguồn thủy điện lớn và vừa; đến năm 2030 điện năng sản xuất từ nguồn này chỉ còn chiếm khoảng 12,4%. Đối với nguồn nhiệt điện khí, trữ lượng ở các nguồn khí tại mỏ Nam Côn Sơn, Cửu Long ở Đông Nam Bộ, mỏ Cái Nước ở Tây Nam Bộ cũng bắt đầu suy giảm. Trong khi đó, công tác đầu tư, khai thác ở một số nguồn khác cũng gặp vướng ở nhiều khâu, thu xếp nguồn vốn khó khăn. Trong khi đó, nguồn điện từ năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió mặc dù tiềm năng lớn nhưng vận hành không ổn định do phụ thuộc vào thời tiết nên cần phải bổ sung nguồn dự phòng và tính toán kỹ lưỡng để bảo đảm hệ thống điện vận hành an toàn, ổn định khi hòa vào điện lưới quốc gia.

Hiện nay, nguồn nhiệt điện than được xem là nguồn có giá hợp lý, dự kiến đến năm 2030 sẽ chiếm 53,2% tổng sản lượng điện hệ thống. Theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, tổng công suất các nguồn điện than đưa vào vận hành của các giai đoạn là: 2016-2020 là 13.850 MW; 2021-2025 là 21.600 MW; 2026-2030 là 8.700 MW. Tuy nhiên, trên thực tế, giai đoạn 2016-2020 chỉ đưa vào hoạt động khoảng 8.000 MW (tương đương 58%); riêng giai đoạn 2021-2025 các nguồn cấp điện than bị ảnh hưởng từ việc trễ tiến độ của các DA: Thái Bình 2, Long Phú 1, Sông Hậu 1… Ngoài ra, hiện một số địa phương khu vực phía nam như: Long An, Bạc Liêu, Tiền Giang… không ủng hộ chủ trương xây dựng các DA nhiệt điện than sẽ ảnh hưởng lớn đến việc cấp điện của giai đoạn 2025-2030, nhất là các tỉnh, thành phố phía nam. Trong khi, để kiếm nguồn thay thế khác cho nguồn từ nhiệt điện than thì sẽ tiêu tốn thêm khoảng 7.000 tỷ đồng/năm kinh phí để đầu tư.

Theo Phó trưởng ban phụ trách ban chiến lược phát triển, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Nguyễn Quốc Minh, tổng công suất các nguồn điện dự kiến đưa vào vận hành trong giai đoạn 2016 - 2020 là 16.500 MW, chỉ đạt hơn 76% khối lượng dự kiến theo Quy hoạch điện VII. Và nếu nguồn vẫn tiếp tục khó thì nguồn phát điện giai đoạn 2021-2025 dự báo sẽ còn khó khăn hơn nhiều.

Điện mặt trời là một trong những giải pháp mới để bảo đảm nguồn cung cho hệ thống điện hiện nay.

Kiểm soát tốt hơn nguồn cầu

Về nguồn cung ứng điện, EVN đưa ra những dự báo, với tốc độ tăng trưởng phụ tải hằng năm bình quân hơn 10% như hiện nay, mỗi năm hệ thống điện cần được bổ sung tối thiểu hơn 6.000 MW công suất đặt.

Năm 2018, toàn hệ thống điện mới sản xuất và mua được 212,9 tỷ kWh, trong khi theo quy hoạch thì đến năm 2030 cần sản xuất được 570 tỷ kWh. Ở bối cảnh hiện tại, trong 10 năm tới để có đủ 360 tỷ kWh điện cung cấp cho hệ thống nguồn là bài toán nhiều thách thức đối với ngành điện lực.

Thực tế cho thấy, theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, trong giai đoạn 2018-2022, tổng công suất các nguồn điện dự kiến đưa vào vận hành là 34.864 MW, riêng nhiệt điện than chiếm đến 26.000 MW nhưng cho đến nay, chỉ có bảy DA nhiệt điện than với công suất 8.000 MW đã khởi công. Các DA còn lại vẫn chưa có dấu hiệu sẽ được thực hiện trong thời gian tới.

Về giải pháp bảo đảm các nguồn cung cấp điện cho hệ thống nguồn, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Bộ Công thương cho rằng: Cần bảo đảm đúng tiến độ các DA về cung ứng điện đã được duyệt theo kế hoạch, cần thiết phải có cơ chế để đẩy nhanh tiến độ; bổ sung quy hoạch và thực hiện các DA điện gió, điện mặt trời đồng bộ với hệ thống điện lưới quốc gia; thực hiện hiệu quả các chương trình tiết kiệm điện…

Ở góc nhìn của một chuyên gia kinh tế, PGS, TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Kinh tế Việt Nam cho rằng: Để bảo đảm nguồn cung ứng điện hiện nay thì các cơ quan chức năng cần phải kiểm soát được nguồn cầu, tức nhu cầu sử dụng của đối tượng sử dụng điện. Cụ thể ở đây là các doanh nghiệp sản xuất. Thực tế, từ trước đến nay, giá điện ở nước ta rẻ hơn so nhiều quốc gia khác nên nhiều nhà đầu tư sản xuất các ngành nghề tiêu thụ năng lượng lớn đã chọn Việt Nam làm điểm đến.

Trong bối cảnh hiện nay, nếu chúng ta vẫn “nỗ lực” để bảo đảm cung ứng đủ điện cho sản xuất mà không quan tâm đến kiểm soát nhu cầu sử dụng thì nguy cơ thiếu điện là rất hiện hữu. Không đủ điện mới nguy hiểm chứ không phải chỉ ở giá điện, tức là nếu thiếu nguồn cung thì nền kinh tế sẽ bị tác động tiêu cực, PGS, TS Trần Đình Thiên khẳng định.

Theo ông Thiên, dư địa để bảo đảm an ninh năng lượng là hiệu quả sử dụng điện, trong đó người dân có một vai trò rất quan trọng. Khi giá điện tăng thì nhiều người phản ứng mạnh trong khi bình thường ý thức sử dụng điện một cách hiệu quả, tiết kiệm thì lại không nhiều người chú trọng, quan tâm, cho rằng trách nhiệm cung cấp điện là của Nhà nước. Thời gian qua, phong trào tiết kiệm điện đã được nhiều đơn vị tham gia hiệu quả, tạo được một số kết quả cụ thể, nhưng vấn đề này cũng chỉ mới dừng lại ở việc tuyên truyền, vận động ở những thời điểm nhất định. Để đạt kết quả tốt hơn, cần những giải pháp hiệu quả để việc tiết kiệm điện trở thành ý thức, một việc thường ngày của mỗi người dân. Đó là một điểm cần sớm có giải pháp để điều chỉnh. Đối với các ngành sản xuất, trong việc thu hút nhà đầu tư cũng nên đưa tiêu chuẩn về hiệu quả sử dụng năng lượng, công nghệ tiết kiệm năng lượng thành một trong những điều kiện khuyến khích, yêu cầu trong đầu tư, thậm chí phải có chế tài, quy định cụ thể.

Nhiều chuyên gia cũng cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, để bảo đảm nguồn cung, việc phát triển nhiệt điện than vẫn là một trong những giải pháp tốt nhất bởi lợi thế về giá cả. Tuy nhiên, các nhà đầu tư, cơ quan chức năng phải đặc biệt quan tâm đến môi trường, phải kiểm soát được môi trường, không gây ảnh hưởng đến người dân thì các DA mới có thể được thực hiện đúng tiến độ đề ra như quy hoạch đã xây dựng. Đối với các nguồn cung cấp điện khác, các cơ quan chức năng cần có sự vào cuộc đồng bộ để tạo cơ chế thông thoáng, chính sách thu hút để huy động các nguồn lực xã hội tham gia.