Ước vọng hồi sinh sông, hồ

BÀI & ẢNH: QUỐC MINH, THANH TÙNG

Thứ năm, 08/06/2017 - 04:48 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Mương thoát nước chảy qua KĐT Dịch Vọng luôn bốc mùi nồng nặc

Kỳ 2: Nước thải bủa vây thành phố

Hiện nay, hệ thống sông, hồ trên địa bàn Thủ đô đang từng ngày “chết dần, chết mòn” với những dòng nước đen ngòm, cạn kiệt, rác thải dồn ứ bốc mùi hôi thối, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân. Thế nhưng, đến nay hầu hết những dự án cải tạo, thay thế nguồn nước vẫn chỉ nằm trên giấy hoặc chậm tiến độ.

Khắp nơi ô nhiễm

Dọc hai bờ sông Tô Lịch lâu nay có hàng trăm ống xả thải của các hộ dân sống hai bên bờ cùng hệ thống cống xả của các nhà hàng, quán ăn ngày đêm hoạt động, nhiều chỗ nước thải dồn bọt trắng xóa trên sông. Hàng chục năm qua, tình trạng ô nhiễm nước sông Tô Lịch là vấn đề nan giải song chưa được khắc phục triệt để. Vào mùa hè, không khí oi nóng hòa lẫn với mùi hôi thối bốc lên từ lòng sông khiến hàng nghìn hộ dân sống dọc hai bên bờ cảm thấy ngột ngạt.

Ông Nguyễn Văn Quang (đường Nguyễn Khang, Cầu Giấy) bức xúc: “Nhiều năm nay chúng tôi vẫn phải chống chọi với cảnh ô nhiễm này. Dù lòng sông đã qua nhiều lần cải tạo và khắc phục nhưng hiện vẫn ô nhiễm nặng. Nước sông ngày càng cạn, đen ngòm và nồng nặc mùi hôi. Có những thời điểm lòng sông gần như cạn khô, xác các loài động vật trương phình, thối rữa, bốc mùi cực kỳ khó chịu. Trên mặt sông, rác thải kết thành bè mảng nổi lềnh bềnh không thoát đi đâu được…”.

Không riêng gì Tô Lịch, nhiều đoạn của những con sông khác trên địa bàn Hà Nội chẳng khác nào sông “chết”. Nước sông đen kịt, mùi xú uế bốc lên nồng nặc, nhiều đoạn mặt nước là những ụ rác, sình lầy nổi váng đen ngòm. Mới vào đầu hè nhưng nhiều đoạn sông nước đã cạn kiệt, dòng chảy gần như ngưng hoàn toàn.

Nhìn những chiếc cống lớn thoát nước thải ngay sát cây cầu đang xối xả chảy xuống sông Sét, chị Tâm (phố Phan Đình Giót, quận Thanh Xuân) cho hay: Sống cạnh những mương nước thải này dù không muốn nhưng chúng tôi cũng phải chịu. Nhiều khi người ta cứ vô tư vứt rác thải xuống dòng sông, từ các loại túi ni-lông cho đến thùng xốp, phế liệu… khiến dòng nước càng thêm ô nhiễm. “Dòng sông này đang hứng chịu nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất, rồi nước thải từ các con sông khác đổ vào. Nước sông ô nhiễm đến mức người ta cũng không dám dùng để tưới rau thì loài thủy sinh nào mà chịu cho nổi”, chị nói.

Nhiều nguồn đầu độc

Nguyên nhân sông, hồ bị ô nhiễm thì có nhiều, phổ biến nhất là hiện tượng “đầu độc” bằng cách xả trực tiếp nước thải sinh hoạt không qua xử lý xuống cống, mương thoát nước. Nói cách khác, đây là tác nhân trực tiếp khiến tình trạng ô nhiễm ao hồ, sông ngòi ở thành phố càng trầm trọng. Ngoài ra, các khu công nghiệp, khu đô thị mới, làng nghề, bệnh viện cũng đóng góp một phần không nhỏ lưu lượng nước thải âm ỉ chảy ra sông ngòi ở Thủ đô. Nhiều khu đô thị dù mới hoàn thành xây dựng nhưng lại không có trạm xử lý nước thải, do đó, nước thải cứ thế xả thẳng vào hệ thống thoát nước chung của thành phố.

Hằng ngày sông, hồ Hà Nội tiếp nhận hàng triệu m³ nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước thải từ các nguồn khác nhau đổ ra, dẫn tới tình trạng xử lý chưa xong đầu này thì đầu kia đã bị ô nhiễm. Với những hồ có khả năng điều hòa thoát nước đô thị (gồm mặt nước và các công trình đầu mối điều tiết nước) thì lại đều có các cống nối với hệ thống thoát nước của thành phố. Vào những ngày mưa lớn, hồ tiếp nhận nước mưa từ hệ thống thoát nước thành phố qua các cống nói trên cùng với rác và nước thải sinh hoạt, điều này đã làm suy giảm chất lượng nước hồ và làm ô nhiễm mặt nước bởi rác thải.

Mương thoát nước ở khu tái định cư Nam Trung Yên (Cầu Giấy, Hà Nội) luôn có mầu đen ngòm, lờ lững chảy trực tiếp ra sông Nhuệ. Vào mùa nắng nóng, nước dưới mương bốc mùi khiến không chỉ người dân sinh sống quanh đó khó chịu mà bất cứ ai đi qua cũng không thể chịu nổi. Chung tình cảnh đó, bãi rác tự phát ở mương thoát nước Dịch Vọng, Yên Hòa, quận Cầu Giấy cũng trở thành nỗi ám ảnh của hàng trăm hộ dân phường Yên Hòa bởi sự ô nhiễm nặng nề. Nguyên nhân chính là do người dân xả rác vô tội vạ xuống mương. Anh Nguyễn Văn Khánh, sinh sống gần con mương này cho biết: “Hôm nào rác không vứt xuống mương thì lại vứt trên đường, trời mưa rác thải lại trôi xuống mương rồi chẳng trôi đi đâu được. Sống bên cạnh con mương này ô nhiễm lắm, nhưng chúng tôi cũng đành chịu”.

Sự thiếu ý thức của một bộ phận người dân khi cứ thẳng tay vứt rác bừa bãi xuống cống, mương… gây tắc nghẽn ở hầu hết các tuyến thoát nước tại Hà Nội, hệ thống không thể tiêu thoát nước mỗi khi có mưa lớn kéo dài, dẫn đến đường phố bị ngập úng cục bộ. Đây là thực trạng thường thấy tại các khu vực Cổ Nhuế - Xuân Đỉnh (Bắc Từ Liêm), Văn Khê (Hà Đông), Trung Văn (Nam Từ Liêm), cầu Tó - Tả Thanh Oai (Thanh Trì)…

Bất cập xử lý

Từ nhiều năm nay, TP Hà Nội đã triển khai nhiều đề án cải tạo, nạo vét các dòng sông, ao, hồ bị ô nhiễm trên địa bàn. Tuy nhiên, hiện kết quả vẫn chỉ dừng lại ở bê-tông hóa và cống hóa. Riêng phần gốc là xử lý nguồn nước ô nhiễm, làm sạch nước thải, hạn chế xả thải từ kênh, mương ra sông, hồ thì chưa được triển khai đồng bộ, thậm chí chồng chéo giữa các văn bản.

Ngày 18-5-2011, UBND thành phố ban hành Quyết định số 2249/QĐ-UBND về Quy chế quản lý, duy trì chất lượng nước các hồ sau xử lý ô nhiễm. Đây là quy chế quy định công tác quản lý hồ Hà Nội, trong đó xác định tiêu chuẩn kỹ thuật sau xử lý; phân công các đơn vị quản lý và duy trì chất lượng nước; quy định về kinh phí, xử lý hành chính và trách nhiệm của Sở Tài nguyên & Môi trường (TN&MT) Hà Nội cùng các sở, ngành khác... Tuy nhiên, phần lớn các văn bản trên chỉ mang tính liệt kê nhiệm vụ chứ chưa cụ thể, việc phân cấp quản lý theo chức năng bị xé nhỏ.

Việc quản lý xả nước thải được quy định Luật Tài nguyên Nước và Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi có nêu rõ các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước và hệ thống công trình thủy lợi (CTTL) cần phải được các cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Theo đó, Bộ TN&MT và UBND tỉnh cấp giấy phép xả thải vào nguồn nước, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và UBND tỉnh cấp giấy phép xả thải vào hệ thống CTTL. Như vậy, trên cùng một hệ thống lại có hai loại giấy phép khác nhau được cấp bởi hai cơ quan khác nhau để quản lý cùng một vấn đề là điều bất hợp lý.

Ngoài ra, việc phân trách nhiệm cấp phép xả thải cho ngành nông nghiệp không có chức năng quản lý môi trường cũng dẫn tới nhiều bất cập. Các Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm cấp phép xả thải vào CTTL nhưng lại không có thẩm quyền thanh tra, xử phạt các doanh nghiệp xả nước thải chưa qua xử lý hoặc không có giấy phép. Các đơn vị quản lý, khai thác CTTL cũng chỉ có thể theo dõi, phát hiện vi phạm và báo cáo lại các cơ quan chức năng như Sở TNMT, cảnh sát môi trường để xử lý. Ngoài ra, nhiều vấn đề chưa thống nhất giữa các bộ, sở đã dẫn đến xung đột, bất cập trong các chính sách quản lý nguồn nước, bảo vệ môi trường. Đến khi xảy ra sự cố thì không biết cơ quan nào chịu trách nhiệm chính, hoặc dựa dẫm vào nhau nên vụ việc xử lý chậm chạp, dẫn tới tình trạng “cha chung không ai khóc”.

Sự phức tạp, chồng chéo trong công tác quản lý, khai thác các hồ với những mục đích khác nhau là một trong các nguyên nhân chính giảm hiệu quả của công tác quản lý bảo tồn hồ. Do vậy, nhiều sông, hồ không phát huy hết chức năng môi trường, điều hòa khí hậu phục vụ đời sống và cảnh quan đô thị cho người dân trong thành phố.

PGS, TS Trương Mạnh Tiến, Chủ tịch Hội Kinh tế môi trường Việt Nam nhận định: Ô nhiễm nước ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng và nền kinh tế đất nước. Do đó nhất thiết cần có sự thay đổi trong chính sách xây dựng pháp luật nhằm nâng cao năng lực thực thi pháp luật từ trung ương tới địa phương. Hiện nay có rất nhiều quy định pháp luật, quy định về các công cụ kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nhưng thực trạng ô nhiễm vẫn xảy ra phổ biến. Điều này có thể do cách tiếp cận xây dựng chính sách pháp luật chưa phù hợp do có sự chồng chéo giữa các cơ quan chức năng, thiếu sự lồng ghép công nghệ, nhân lực...

(Còn nữa)